- TRANG CHỦ
- GIỚI THIỆU VỀ BÁC SĨ
Xung quang học - Công nghệ mới làm trẻ đẹp da và triệt lông
Làm trẻ đẹp bằng điện sinh học B.E.A.M
Trẻ hóa và trị khô da bằng điện ion PGA
Làm săn chắc da, căng da mặt cổ, thon gọn cơ thể và tan mỡ bụng, nọng càm bằng Radio Frequency
Kỹ thuật mới điều trị mụn
Điện ion vitamin E
Trẻ hóa da bằng điện di ion Placenta
Xóa nốt ruồi tàn nhang bằng laser
Cà da mặt
Siêu mài da
Điều trị mỡ thừa không mong muốn bằng Mesotherapy
Trẻ hóa da và xóa nhăn bằng Botox
Điều trị nhiều mồ hôi ở nách
Restylane
Restylane Vital- Công nghệ làm trẻ hóa da từ Thụy Điển
Trẻ đẹp không cần phẫu thuật
Trẻ hoá da nặt bằng điện Ion Vitamin C, trị da nám, thâm, nhăn, làm giảm da nhờn
Phân loại và phát đồ điều trị mụn
Giải phẫu thẫm mỹ bọng mỡ mi mắt
Phẫu thuật thẫm mỹ mũi
Phẫu thuật thẫm mỹ càm
 
Sách đã xuất bản - Những điều cần biết về phẩu thuật thẩm mỹ
Hỏi đáp về giải phẫu thẩm mỹ
Phụ nữ và phẫu thuật thẩm mỹ
Chuyển hóa mỡ và phẫu thuật tạo hình
Chứng rụng tóc
Tư vấn về mụn được đăng trên báo Khoa Học Phổ Thông
- LIÊN HỆ
 
 
 


CHUYỂN HOÁ MỠ VÀ PHẨU THUẬT TẠO HÌNH

BS. Trần Thiện Tư
----------------o0o----------------


Mở là mô đệm của cơ thể, ngoài việc giúp cho hiện rõ các nét đẹp của mổi người, còn góp phần trong nhiều hoạt động duy trì sự sống, cung cấp, dự trử năng lượng cần thiết cho cơ thể V. V... Mở phát triển từ tổ chức nào, có cấu trúc ra sao và khi thay đổi số lượng, vị trí tổ chức mỡ có ảnh hưởng gì đến sức khoẻ hay không? Chúng ta thử tìm hiểu vấn đề nầy trong bài nầy.

I. Chuyển hoá mỡ
1- Sự phát triển thành mô mỡ

Tổ chức mỡ dưới da xuất phát từ cấu trúc reticuloendothelial đặc biệt được xem như cơ quan nguyên thuỷ ở dưới da, từ tháng thứ tư của thai kỳ. Vào năm 1851 Wirchow là người đầu tiên gợi ý tế bào mỡ là một loại tế bào đặc biệt của mô liên kết. Quan niệm nầy đến nay vẫn còn đúng với mỡ được xếp vào một dạng đặc biệt của mô mạng liên kết ( reticular connective tissue ). Mở bắt nguồn từ vùng mô liên kết, quanh các mạch máu dưới da, từ tế bào mỡ nguyên thuỷ ( adipopoblasts ), tế bào nầy không khác gì với các tế bào chung quanh và phát triển thành tế bào preadipocytes. Preadipocytes chuyển sang tế bào mỡ trưởng thành ( adipocytes ) nhờ tích tụ chất triglycerides. Tế bào mỡ nhóm họp lại thành từng thuỳ ( lobule ) có mạch máu nuôi riêng với động mạch trung tâm cung cấp máu cho hệ thống mao mạch bao quanh từng tế bào mỡ.

Các thuỳ mỡ nầy ngăn cách nhau bở vách bằng mô sợi, các thuỳ mỡ cấu tạo thành mô mỡ, xuất hiện nhiều ở dưới da, quanh thận và vùng màng ruột. Mô mỡ chiếm khoảng 20% trọng lượng của cơ thể . Vì mô nầy có nhiều chức năng nên được nhiều người xem như là một cơ quan đặc biệt của cơ thể ( như da chẵn hạn ) Mô mỡ có hệ thống máu nuôi độc lập, sự tích tụ tế bào mỡ trong các cơ quan khác chủ yếu ở quanh các mạch máu và phụ thuộc vào mạch máu nuôi của cơ quan đó.

Mô mỡ dưới da nhận máu nuôi từ hệ thống mạng ở cân ( fascial network), tạo thành tùng mạch máu dưới da, từ đó các nhánh mạch máu nhỏ sinh ra, tạo thành hệ thống dưới gai bì, là nguồn gốc của hệ thống máu nuôi ở gai bì. Các thuỳ mỡ nhận máu nuôi từ các nhánh xuống của hệ thống mạch máu dưới gai bì. Khi các thuỳ mỡ dày ( hơn 10mm ), nó nhận máu của nuôi từ hai phía, các nhánh xuống từ dưới da nuôi lớp mỡ ở trên và các nhánh lên từ cân nuôi lớp mỡ ở dưới.

Khi mô mỡ đạt đến một độ dày nào đó, các mạch máu xuống và lên gặp nhau, hình thành mạng máu nuôi thứ ba. Một màng ngăn cách có thể được thành lập ở vùng nầy, chia mỡ dưới da thành hai vùng riêng biệt. Ý nghĩa của sự phân chia về giải phẩu nầy chưa rõ dù sự tăng dần kích thước của tế bào lớp mỡ sâu có thể có ý nghĩa trong việc cấy mỡ. Cần có thêm nghiên cứu về sự liên quan giữa kích thước tế bào mỡ và sự tồn tại của nó khi được cấy vào nơi khác.

Số lượng tế bào mỡ và các thuỳ mỡ do nó tạo thành gia tăng cho đến khi sự phát triển cơ thể hoàn toàn, tức là sau tuổi dậy thì cho đến khi thành người lớn. Quá trình nầy xảy ra từng đợt, đạt đỉnh cao nhất vào cuối tuổi dậy thì. Ngược lại, kích thuốc tế bào mỡ tiếp tục gia tăng đến một mức độ nào đó trong suốt cuộc đời, tuỳ thuộc vào sự dinh dưỡng.

Vì vị trí cơ quan mỡ lúc đầu đã được định trước do di truyền và độ dày của mỡ dưới da thay đổi tuỳ theo vùng của cơ thể. Độ dày nầy không những khác nhau tuỳ vùng của cơ thể mổi người mà còn thay đổi tuỳ theo người, cho hình dạng đặc biệt riêng từng người.
Ảnh hưởng của di truyền trên lớp mỡ dưới da đã được xác nhận qua nghiên cứu thực nghiệm trên sinh vật và trên người. Cấy tổ chức mỡ nguyên thuỷ sẽ hình thành mô mỡ ở nơi nhận với các dặc điểm của nơi nó sinh ra.

Phái cũng là một yếu tố khác ảnh hưởng đến sự bố trí mỡ. Phụ nữ được bố trí theo dạng nữ ( gynecoid ) ở phần mông và đùi, nam dược bố trí theo dạng nam ( anđroi ) với lượng mỡ tích tụ nhiều ở phần trên của cơ thể.

2/ Bệnh béo phì

Bệnh béo phì ( Obesity ) được định nghĩa là gia tăng trọng lượng từ 15% đến 20% do nhiều mơ mỡ. Thực nghiệm cho sinh vật ăn thức ăn cĩ nhiều mỡ trong giai đoạn tương đương với tuổi niên thiếu của con người cho thấy sự thành hình các tế bào mỡ gia tăng và đưa đến sự tăng trọng quá mức của sinh vật nầy khi trưởng thành. Nếu việc nầy áp dụng cho người, lúc cịn nhỏ, cho trẻ em ăn nhiều quá, khi lớn, trẻ sẽ tăng trọng quá mức và đưa đến nhiều bệnh về tim mạch.

Nghiên cứu về bệnh béo phì còn cho thấy những người béo phì theo kiểu nam giới thường bị nguy cơ bệnh tim mạch và tiểu đường. Người béo phì theo kiểu nữ giới ít liên quan đến bệnh tật tim mạch và biến duỡngTrặi lại phụ nữ vì lý do nào đĩ, bị nam hĩa, béo phì theo kiểu nam giới cũng bị bệnh giống nam giới.

Dường như béo phì lúc cịn trẻ gây tăng cả hai : số lượng và kích thước tế bào mỡ , hiện tượng nầy được gọi là béo phì do quá sản ( hyperplastic obesity ) tế bào mỡ, dù mỡ tăng cả về số lượng và kích thước. Béo phì do tăng lượng mỡ khi cơ thể phát triển đầy đủ, tức là mập ở người lớn, xảy ra do sự tăng kích thước tế bào mỡ, gọi là béo phì do quá phát ( hypertrophic obesity ). Cả hai béo phì mập này khác nhau, ngồi số lượng tế bào mỡ, cịn đáp ứng khác nhau khi tập luyện và kiêng cử. Béo phì do quá phát đáp ứng tốt với tập luyện cơ thể và kiêng cử, trái lại, béo phì do quá sản khơng đáp ứng. Cĩ hai loại thụ thể đáp ứng với chất catecholamine khác nhau: beta-1 làm tan mỡ và alpha-2 ngăn chận sự thối hĩa mỡ. Hai thụ thể nầy bố trí khác nhau ở những nơi hoạt động làm mỡ tan được và nơi khơng hoạt động làm mỡ khơng tan được tuỳ theo loại mập.

Dù chúng ta được sinh ra với sự bố trí mỡ được định trước do di truyền và các tế bào mỡ trưởng thành được biết là khơng thể sinh sản thêm, các yếu tố khác cĩ thể kích thích các tế bào cịn sĩt lại của hệ thống võng mạng hay các tế bào mỡ nguyên thuỷ phát triển thành các tế bào mỡ mới. Ðiều nầy dường như chỉ xảy ra ở một số người quá mập, trong đĩ các tế bào mỡ dư thừa sẽ kích thích nơi dự trử biến dưỡng nầy chuyển sang thành tế bào mỡ mới qua các yếu tố kích thích mơ mỡ. Ngược lại, sự giảm trọng lượng ở một số người được hút mỡ cĩ thể gĩp phần vào hệ thống phản ứng ngược lại, qua cơ chế nội tiết thần kinh làm giảm số lượng tế bào mỡ, làm giảm trọng lượng cơ thể.

Thực tế cho thấy hút bớt tế bào mỡ ở một nơi nào đĩ được bố trí do di truyền sẽ gây sự thay đổi nơi đĩ vỉnh viển , ảnh hưởng đến hình dạng cơ thể. Ngược lại, sự kiêng ăn làm giảm kích thước tế bào mỡ nhưng khơng giảm được số lượng. Ðiều khĩ khăn khi duy trì trọng lượng thấp sau một thời gian kiêng ăn, cơ thể cĩ thể tăng trọng trở lại do các số lượng các tế bào mỡ khơng thay đổi và hoạt động của các yếu tố chuyển hĩa mỡ ( adipogenic factors ) chịu ảnh hưởng bởi số lượng tế bào chứ khơng do kích thước tế bào.

Thêm vào đĩ, vài chất peptides từ não như beta-lipoprotein và beta-endorphin được tìm thấy với số lượng lớn ở não thuỳ và huyết thanh của sinh vật béo phì thí nghiệm cĩ thể là yếu tố gây béo phì. Dù chưa được hồn tồn hiểu rõ, các chất nầy cĩ thể hoặc kích thích sự thèm ăn hoặc kích thích biến dưỡng.

3/ Chuyển hoá mỡ

Năm mươi năm sau Wirchow gợi ý các tế bào mỡ là loại tế bào đặc biệt, Von Gierke đã tìm thấy là tế bào mỡ có chuyển hoá riêng bên trong. Những năm đầu của 1900 được đánh dấu bằng các nghiên cứu tích cực về tế bào mỡ, bao gồm sự phát triển từ thời bào thai, các đặc điểm về di truyền, sự điều chỉnh bằng nội tiết tố. Phải sau 50 năm mới phát triển được kỷ thuật đếm các tế bào mỡ trong cơ thể. Sự tăng trọng (béo phì ) trước tuổi dậy thì đã được xác định là do tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ, trong khi sự tăng trọng lượng mỡ ở người lớn chủ yếu do sự tăng kích thước của tế bào mỡ. Do các tế bào mỡ của người lớn không thể sinh sản, số lượng của chúng cố định.
Thêm vào việc điều hoà nhiệt độ. tế bào mỡ còn ảnh hưởng đến sự thăng bằng nước bằng cách kết dính với chúng. Mô mỡ là nơi dự trử và phóng thích năng lượng, ảnh hưởng đến biến dưỡng toàn cơ thể. Dù biến dưỡng bên trong của các tế bào mỡ độc lập với nội tiết tố, chất catecholamine và insuline có tác dụng rất quan trọng đến sự biến dưỡng của tế bào.

Catecholamine là tác nhân làm tan mô mỡ quan trọng nhất. Chúng là dụng cụ tạo năng lượng bằng cách tách rời triglycerides dự trử thành axít béo tự do và glycerol. Điều này xảy ra chủ yếu bằng cách kết hợp ctecholamine với thụ thể beta-1 có ở bề mặt của tế bào mỡ. Chất proteine nhân tế bào ( nucleoprotein ) được thành lập sẽ kích thích các men adenylate cyclase làm trung gian cho sự biến đổi ATP thành cyclic adenosine monophosphate (cAMP ). Chất nầy kiểm tra vận tốc làm tan mỡ của cơ thể con người do tác dụng của nó trên lipoprotein lipase. Điều nầy làm phân huỷ triglycerides thành axít béo tự do và glycerol.

Phản ứng ngược lại xảy ra khi catecholamines được kết hợp với thụ thể alpha-2. Phối hợp nầy ức chế adenylate cyclase và kết quả là ngăn chận sự thành lập cAMP. Chất lipoprotein lipase không thể thành hình và phản ứng ngược lại xảy ra với sự gia tăng chất đường và tăng sự tổng hợp mỡ.
Có thể những nồng độ khác nhau của 2 loại thụ thể nhạy cảm với catecholamine alpha-2 và beta-1 làm cho mỡ khó hay dể bị tiêu huỷ ở các vùng khác nhau trong cơ thể. Một sự gia tăng chất chống lại sự tan mỡ ở thụ thể alpha-2 và thụ thể tiếp nhận insuline có nhiều ở mỡ vùng bụng và đùi giải thích lý do nơi nầy không giảm mỡ khi kiêng ăn hay tập thể dục.

Hơn nữa, tác dụng chống sự tan mỡ rất rỏ rệt ở đùi, tế bào mỡ ở đùi vẩn giử nguyên kích thước dù sự phân huỷ triglycerides gia tăng. Một việc đáng chú ý nửa là các tế bào ở đùi có nhiều thụ thể chống sự tan mỡ là sự kiện là chất catecholamine hoạt động mạnh hơn ở vùng bụng ( có thể vì có nhiều thụ thể beta-1 ), trong khi đó insuline có tác dụng làm tan mỡ mạnh ở vùng đùi, có thể vì các tế bào mỡ ở đây có một số lớn thụ thể đặc biệt với insuline.

4. Mô mỡ:

 
     
 
Mô Mỡ
Bụng và đùi
"Mỡ do di truyền"
Mặt, cánh tay
Phần trên cơ thể
   
Nhiều thụ thể Alpha 2 và Insuline
( chống tan mỡ )
Nhiều thụ thể Beta 1 tác dụng tan mỡ
   
Ít đáp ứng với kiêng ăn hay
tập luyện
Đáp ứng tốt với kiêng ăn
và tập luyện
   
Vị trí khác nhau căn bản giữa thụ thể Alpha 2 và beta 1 ở cơ thể người
 
     
 

Insuline cũng có tác dụng ngăn chận sự tan mỡ khi kết hợp với thụ thể đặc biệt trên tế bào mỡ. Từ đó, xuyên qua nhiều cơ chế khác nhau chưa được hoàn toàn biết rõ, nó ngăn chận sự tan mỡ bằng cách ngăn chận adenylate cyclase và ngăn chận lipoprotein lipase. Tác dụng nầy đưa đến kết quả gia tăng sự tiêu thụ chất đường và thành lập triglycerides trong tế bào. Insuline cũng kích thích phosphodiesterase, chất nầy chuyển hoá cAMP ( chất kích thích men lipase làm tan mỡ trong tế bào ) thành 5ÁMP, một chất chuyển hoá không hoạt động. Các hoạt động nầy năn chận sự tan mỡ.
Ở người mập và tiểu đường, tác dụng của Insuline phức tạp hơn, và có thể là chỉ có chuyển hoá đường bị ảnh hưởng mà thôi. Hơn thế nửa, sự tan mỡ gia tăng, đưa đến kết quả là gia tăng lượng axít béo tự do lưu thông trong cơ thể, gây bất dung nạp chất đường và có thể làm hại tim, gia tăng lượng Triglycerides có thể gây bệnh xơ mỡ động mạch.

Người ta đã chứng minh người béo phì bị nhiều bệnh tim mạch và biến dưỡng như cao huyết áp, tai biến mạch máu nảo, bệnh động mạch tim ( đau thắt ngực, suy tim, nhồi máu cơ tim), bệnh tiểu đường, ngừng kinh nguyệt, ung thư nội mạc tử cung VV....

Các mô tả trên không phụ thuộc vào sự lưu thông của thuỳ mỡ, khi kết hợp với sự thừa mỡ, hệ tim mạch bắt phải chịu thêm gánh nặng. Việc nầy rất nguy hiểm khi hệ tim mạch đã bị bệnh từ trước.
Bệnh béo phì chiếm một phần tư dân số Hoa Kỳ. Kiểm soát được bệnh nầy có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong và tật nguyền, giảm nhồi máu cơ tim, suy tim, tai biến mạch máu nảo đến một phần ba. Bệnh béo phì là bệnh đáng sợ khi nghĩ đến bao nhiêu người bị tàn phế do các biến chứng của chúng, chưa kể đến hàng tỷ Đolâ chi phí về y tế phải dùng đến trong khi có thể phòng bệnh được.
Dù phụ nữ bị béo phì theo dạng nữ ít bị tai biến hơn, bệnh béo phì toàn thân cũng đáng báo động. Nguồn kích thích tố nữ chính lưu thông ( như Estrone ) ở phụ nữ tuổi mãn kinh từ mô mỡ. Bệnh mập gia tăng sự bài tiết kích thích tố nữ và đã có bằng chứng liên quan giữa sự gia tăng kích thích tố nữ với bệnh ung thư nội mạc tử cung.

Hơn nửa, những phụ nữ mập có khuynh hướng bị rối loạn kinh nguyệt cao và nam hoá. Dường như cơ chế thần kinh nội tiết với trục điều hành phức tạp ảnh hưởng không những với sự thành lập mô mỡ nhưng cả đến các bệnh về biến dưỡng kết hợp với sự gia tăng tổ chức mỡ.

Nghiên cứu chuyển hoá nầy khó vì có hai khám phá trái ngược nhau: Dù được chứng minh rằng chỉ có chất trích từ nảo thuỳ có tác dụng trên chuyển hoá mỡ, các thú vật cắt bỏ tuyến yên sự điều chỉnh mô mỡ vẩn còn. Thêm vào đó, những nghiên cúu sâu về chuyển hoá mỡ đã được ngành phẩu thuật tương đối mới là hút mỡ khởi động. Phẩu thuật nầy đã lấy một khối lượng mỡ bố trí do di truyền có ảnh hưởng lớn đến các bệnh chuyển hoá liên quan đến bệnh béo phì .

Các tiến bộ mới về miễn dịch có thể có cách chống bệnh béo phì, căn cứ trên việc làm vô hiệu thụ thể ngăn chân sự tan mỡ Alpha 2. Tác động nầy sẽ làm cho thụ thể Beta 1 phát huy tác dụng làm tan mỡ ở một số vùng trên cơ thể khó làm giảm cân. Tiến xa hơn, bệnh béo phì có thể điều trị được bằng cách điều chỉnh các thụ thể khác nhau trên tế bào mỡ.

II - Sơ lược về phẩu thuật tạo hình mỡ

1- LỊCH SỬ PHẨU THUẬT TẠO HÌNH MỠ

1929 Dujarier ( Pháp ) rạch đường nhỏ ở bấp chuối, dung thìa nạo lấy bớt mỡ cho một vủ nữ: kết quả gây tổn thương nhiều mạch máu lớn, phải cắt đoạn 1 chi dưới
1968 Wilkinson ( Mỷ ): kết quả khá hơn, nhưng thiếu dụng cụ
1972 Schrude (Ðức ): dung thìa nạo hút, bị biến chứng
1975 hai cha con Fischer ở Rome: đầu tiên dùng máy hút và cắt mỡ, sau đĩ dung ống hút đơn thuần.
1978, 1979, 1980 Illouz ( Pháp ) chuẩn hĩa ống hút và là người đầu tiên thành cơng trong phẩu thuật hút mỡ
1980 Norman Martin, người Mỷ đầu tiên sang Pháp học kỷ thuật hút mỡ của Illouz về dạy ở Mỹ.
1982 American Society of Liposuction Surgery được thành lập
Một năm sau, Fournier trình bày phương pháp hút mỡ của Illous tại hội nghị của Americain Academy of Facial Plastic and Reconstructive Surgery. Trong hội thảo viên cĩ một Bác sĩ phẩu thuật tạo hình tổng quát tên Gregory Hetter thuyết phục hội phẩu thuật tạo hình Mỷ tổ chức một hội thảo về kỷ thuật nầy tại Paris để đánh giá ngành phẩu thuật mới nầy. Kết luận “ Hội nghị đã nhất trí là phẩu thuật hút mỡ của Illouz bằng ống hút đầu tù là một phẩu thuật hiệu quả, an ton..”^`

2 - VỊ TRÍ MỠ ÐƯỢC HÚT

• Bụng dưới và trên
• Eo và mơng
• Ngực ( Cả nam và nữ )
• Cánh tay
• Ðùi và cẳng chân
• Vùng mặt và cổ

3 - NƠI MỠ ÐƯỢC CẤY VÀO

• Mặt, càm
• Bàn tay, cổ tay
• Ngực

4 - CÁC BIẾN CHỨNG CỦA PT HÚT MỠ và CẤY MỠ

Với sự tiến bộ rất nhanh của ngành phẩu thuật nầy, các biến chứng ngày càng ít gặp

1/ Chảy máu và tụ máu nơi hút:
2/ Nhiểm trùng nơi mổ
3/ Da vùng hút bị gợn sĩng và khơng đều
4/ Vùng được hút bị nề, cúng do tụ máu: rất nhỏ và ít gặp, sẽ hết
5/ Sẹo nơi hút không đáng kể
6/ Da bị lõm, loét do hút mỡ sát da quá, có thể tránh được
7/ Tắt tĩnh mạch sâu và thuyên tắt phổi
8/ Ung thư nởi được cấy mỡ: Chưa được chứng minh
9/ Thừa da sau khi hút mỡ: do sự đàn hồi của da, ít khi cần cắt bỏ da

III – Kết luận
Phẩu thuật hút cấy mỡ hay nói rộng hơn, phẩu thuật tạo hình mô mỡ đã có từ lâu, xuất phát từ nhu cầu điều trị bệnh và làm đẹp của con người. Phẩu thuật nầy đã dựa trên cơ sở khoa học rất chính xác và càng ngày càng phát triển. Giảm lượng mỡ thừa trong cơ thể không phải chỉ là làm đẹp thôi, mà còn giúp đề phòng các bệnh về chuyển hoá, về tim mạch...

IV - Tài liệu tham khảo

Jacques FAIVRE, Jean-Marie FAIVRE, Chirurgie Esthetique, MALOINE, 1992
Jean-Pierre de L’ ESTANG du RUSQUEC, Liposcultures en pratique, Solal editeur, 1994
Lim Cheng Hin, the shape of the 90s’ through liposuction, October 1991, Singapore
Pierre F. Fournier, LIPOSCULTURE ma technique, Arnette, 1989
Saul Asken, MD.., FAAPRS, Liposuction Surgery and Autologous Fat Transplantation, Appleton & Lange, 1988