- TRANG CHỦ
- GIỚI THIỆU VỀ BÁC SĨ
Xung quang học - Công nghệ mới làm trẻ đẹp da và triệt lông
Làm trẻ đẹp bằng điện sinh học B.E.A.M
Trẻ hóa và trị khô da bằng điện ion PGA
Làm săn chắc da, căng da mặt cổ, thon gọn cơ thể và tan mỡ bụng, nọng càm bằng Radio Frequency
Kỹ thuật mới điều trị mụn
Điện ion vitamin E
Trẻ hóa da bằng điện di ion Placenta
Xóa nốt ruồi tàn nhang bằng laser
Cà da mặt
Siêu mài da
Điều trị mỡ thừa không mong muốn bằng Mesotherapy
Trẻ hóa da và xóa nhăn bằng Botox
Điều trị nhiều mồ hôi ở nách
Restylane
Restylane Vital- Công nghệ làm trẻ hóa da từ Thụy Điển
Trẻ đẹp không cần phẫu thuật
Trẻ hoá da nặt bằng điện Ion Vitamin C, trị da nám, thâm, nhăn, làm giảm da nhờn
Phân loại và phát đồ điều trị mụn
Giải phẫu thẫm mỹ bọng mỡ mi mắt
Phẫu thuật thẫm mỹ mũi
Phẫu thuật thẫm mỹ càm
 
Sách đã xuất bản - Những điều cần biết về phẩu thuật thẩm mỹ
Hỏi đáp về giải phẫu thẩm mỹ
Phụ nữ và phẫu thuật thẩm mỹ
Chuyển hóa mỡ và phẫu thuật tạo hình
Chứng rụng tóc
Tư vấn về mụn được đăng trên báo Khoa Học Phổ Thông
- LIÊN HỆ
 
 
 


NGUYÊN NHÂN TỔNG QUÁT VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ MỤN
BS. Trần Thiện Tư

----------------o0o----------------

Mụn là bệnh ngoài da mạn tính của nang lông, nếu không được điều trị tốt có thể đưa đến nhiều sẹo xấu nơi mặt. Bệnh bắt đầu vào tuổi dậy thì và xảy ra cho khỏang 80% người tuổi vị thành niên, chấm dứt vào tuổi từ 18 đến 20. Có một số người bệnh kéo dài đến lớn. Ðây là một bệnh di truyền, xảy ra ở vùng mặt và phần trên ngực, nơi có nhiều tuyến bả.


Mụn sinh ra do cồi mụn ( gồm chất nhời và tế bào da thối hĩa) bịt kín nang long bị nhiểm trùng

 

Có ba hiện tượng bệnh lý xảy ra ở nang lông đưa đến sự hình thành mụn: Ðó là gia tặng sự bài tiết chất bả đậu, tăng sự sừng hóa nơi bài tiết tuyến bả, gây ứ động chất bài tiết ở lổ chân lông và viêm nhiểm do vi trùng.

A - Sự bài tiết chất bả
Tùy thuộc vào Androgènes và men 5 alpha-réduction ở tuyến bả.
Tăng sự bà tiết chất chất bả do:
- Hoặc gia tăng họat tính của men 5 alpha-réductase chuyển testostérone thành dihydrotestostérone;
- Giảm protéine mang testosterone lưu thông, đôi khi làm tăng testoté rone tại nang lông.
- Hoặc sự sản xuất quá nhiều androgènes ở phụ nữ, gây ra nam hóa, rụng tóc và mụn.

B - Tăng sự sừng hóa ở nơi bài tiết của tuyến bì ( lổ chân lông )
Các chất bả chứa một lương axít béo cao, kích thích lổ chân lông và làm tăng sự sừng hóa hoặc là do sự ký sinh của vi sinh vật gây mụn tên là Propionibactérium Acnes ( PA ) sinh ra chất men thủy phân triglycerides thành axít béo. PA tăng sinh nhiều, các chất sừng và chất bả thành lập, hính thành cồi mụn.
Người ta phân biệt cồi mụn lộ ra ngòai thành chấm đen và cồi mụn kín dạng u nang nhỏ. Sự hình thành cồi mụn còn do ảnh hưởng của các yếu tố bên ngòai như:
- Dùng các lọai mỹ phẩm có nhiều chất mở ( chất nhờn ) ;
- Dùng chất lưu hùynh;
- Aùnh nắng mặt trời;
- Súc nóng;
- Ðộ ẩm.

C - Viêm nang lông: do sự vở màng bao mõng của cồi mụn.Vi trùng PA tiết ra các men hualuronidases, protéases, amylases làm tan màng bao cồi mụn, các hóa chất trung gian kích thích tế bào viêm vào cồi mụn thực bào vi trùng PA. Chất lysosyme được phóng thích làm vở túi nang lông và hình thành tổ chức mô hạt viêm. Về lâm sàng đây là các mụn mủ, đôi khi là những nang cứng sâu dưới da.


Các loại mụn

1/ Mụn đa dạng ở tuổi vị thành niên

Mụn có nhiều dạng khác nhau, bệnh bắt đầu trước tuổi dậy thì bằng việc tăng bài tiết chât nhờn ở mặt và da đầu. Từ da nhờn nầy xuất hiện cồi mụn, mụn bọc nhỏ, to,nổi u ra da, mưng mủ...
Mụn bắt đầu từ trán, mũi, sau đó lan rộng xuống dưới mặt, sau cùng đến lưng và ngực. Bệnh hết cũng theo thứ tự đó, bắt đầu từ mặt.

2/ Các dạng mụn nặng: Có thể xuất hiện rất nhanh sau tuổi dậy thì, sau một đợt có dạng cồi mụn hay mụn mủ.
- Mụn bộc to: đây là dạng mụn nổ gồ lên, trong chứa nang mủ. Thường xảy ra ở phái nam. Các khối u hạt viêm có thể chuyển thành áp xe, dò mủ, về sau thành sẹo cứng, lõm da xuống rất xấu. Ðây là dạng mụn của bé trai, thường ở lưng hay mặt trước ngực. Ở phái nữ lọai mụn nầy thường kết hợp với bệnh nam hóa.
- Mụn dang conglobata.
Theo sau mụn bộc to, các mụt mụn to lên, đau nhiều, mụn tụ lại thành đám và dò mủ ra da. Bệnh kéo dài đến tuổi trưởng thành và cho nhiều sẹo xấu.
- Mụn thể nặng: là lọai mụn conglobata có đi kèm theo sốt, đau nhức các khớp xương và ảnh hưởng đến toàn trạng người bệnh. Nơi mụn bị loét, đóng vảy, chảy máu.

3/ Mụn ở trẻ em
- Trẻ nhỏ: xảy ra khỏang 3 đến 6 tháng sau khi sanh, mặt có cồi mụn và mụn. Bệnh nầy chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn do ảnh hưởng kích thích tố nam của người mẹ.
- Mụn ở trẻ lớn: thường ít gặp. Ðó là lọai mụ đa dạng của trẻ vị thành niên, xảy ra ở những đứa trẻ cha mẹ bị mụn nhiều.

4/ Mụn ở người lớn
Bệnh tích viêm là chủ yếu
- Ở đàn ông: bệnh tích chủ yếu ở cổ và lưng dạng conglobata hay dạng mụn nặng.
- Ở phái nữ: chủ yếu là mụn do kích thích tố, thường xảy ra quanh miệng và vùng hàm dưới.
Các thuốc ngừa thai có androgène và progestérone có thể gây ra hay làm mụn năng thêm. Nếu người bệnh có triệu chứng nam hóa phải tìm xem có u thượng thận hay buồng trứng. Ðặc biệt ở phụ nữ có thể bị mụn do yếu tố tâm lý.

5/ Bệnh mụn thứ phát: Xảy ra do dùng mỹ phẩm, tiếp xúc với các tác nhân vật lý, hóa học hay do dùng thuốc.
- Mụn do dùnh mỹ phẩm: Xảy ra dạng cồi mụn hoặc những nang nhỏ ở quanh miệng. Bệnh xảy ra do dùng mỹ phẩm có nhiều chất nhờn ở người da không thích hợp.
- Mụn do tiếp xúc với các hóa chất có chlor ( như tétrachlorobenzène, chlornaphtaline )
- Mụn do nghề nghiệp: do tiếp xúc với chất hydrocarbures ( có trong dầu hỏa), tạo thành cồi hay nốt mụn ở da nơi tiếp xúc.
- Các tác nhân vật lý như tia X, tia Cobalt có thẻga6y mụn nhiều tuần sau khi xạ trị. Tia tử ngọai trong ánh sáng mặt trời có tính chất diệt trùng nhưng cũng gây mụn.
- Mụn do dùng thuốc trị bệnh: thường dạng viêm nhiều hơn là tạo thành cồi mụn.
Các lọai thuốc gây nổi mụn thường gặp là lọai Corticoides dùng thoa mặt hay uống, các lọai thuốc có chất Halogène như Brome ( Calcibronat ), iode ( thuốc trị bướu tuyến giáp trạng ở cổ ), cobalt ( có trong sinh tố B12 ), flour (có trong kem đánh răng ).
Thuốc trị động kinh như Gardénal, diphénylhydantoine, trimetadoine dùng một thời gian dài có thể gây nổi mụn ở người lớn
Một số lọai thuốc khác cũng có thể gây mụn như muối củ Lithium, Rifampicine, các lọai thuốc chứa chất progestérone tổng hợp.


Ðiều trị
Ðiều trị mụn nhầm 3 mục đích : Giảm bớt chất nhờn, làm tan cồi mụn và làm giảm phản ứng viêm.
A/ Ðiều trị chất nhờn:
- Các chất kháng kích thích tố nam tại chổ, là thuốc ức chế men 5 alpha-réductase, gồm các chất như Progestérone tự nhiên ( Progestosol ), Promestriène ( Delipoderme ), kết hợp kẽm với sinh tố B6 ( Alphane ). Các chất nầy trên lý thuyết rất tốt, nhưng thực tế không cho kết quả nhiều lắm.
- Ðiều trị tổng quát: Nhầm giảm lượng chất nhờn đáng kể
- Ở phụ nữ: Dùng chất kháng Androgène
- Ở cả hai phái: Dùng Isorétinoine.

B/ Ðiều trị kháng Androgène
- Các kích thích tố nữ tác dụng trên ba cách:
Tăng SHBG ( Sexual hormone binding globulin = globulin mang kích thích tố sinh dục ), như vậy giảm testotérone tự do họat động.
Tác dụng ức chế các điểm tiếp nhận kích thích tố nam ở tuyến bả.
Giảm sự sản xuất Androgène ở buồng trứng.
Các thuốc nầy nên kết hợp với acétate cyprotérone hay với một lọai thuốc progestérone không có tác dụng của kích thích tố nam
Thuốc được dùng cho phụ nữ lớn tuổi. Ðối với phụ nữ trẻ có thể dùng oestrogène với liều 30 đến 50mcg ( Ovanon 50, Varnoline 30 ). Ngày nay Diane là lọai thuốc được nhiều người dùng hơn. Thường đến tháng thứ tư mới có kết quả. cần dùng thuốc một thời gian dài, nhiều khi hơn một năm.
Thuốc Isotretùinoine hay Roaccutane: dùng để điều trị mụn nặng.
- Cơ chế tác dụng: Làm giảm nhanh chóng và quan trọng sự bài tiết của tuyến bả không do cơ chế nội tiết. Tác dụng ức chế tuyến bả nầy tồn tại ngay cả khi ngưng dùng thuốc. Tiếp theo thuốc còn làm cồi mụn được đẩy ra ngòai, giảm số lương vi trùng PA, giảm phản ứng kích thích tế bào viêm của cơ thể đến nơi bị mụn.
- Liều dùng là 0,5mg/kg/ngày trong 300 ngày.
Thuốc nầy làm khô da và có thể cho một số tác dung phụ như nhức đầu, đau nhức khớp xương, không dùng được cho phụ nữ mang thai..., nên chỉ được dùng khi bị mụn nhiều, điều trị thuốc khác không kết quả.

C/ Thuốc làm tan cồi mụn:
- Làm sạch da, lấy cồi mụn ra ( hai hoặc ba tháng sau khi bắt đầu điều trị nội khoa) .
- Các lọai thuốc thoa ngòai da như isotrétinoine lọai dung dịch ( gel ) kết hợp với kháng sinh tại chổ cho kết quả tương đối tốt và ít bị phản ứng phụ.

D/ Ðiều trị tổng quát với các thuốc kháng viêm , kháng sinh tại chổ và toàn thân.

E/ Ðiều trị sẹo mụn: Sau khi hết hẵn mụn từ 6 tháng đến 1 năm có thể điều trị sẹo mụn bằng phương pháp lột, cà da mặt hoặc phẩu thuật cắt bỏ sẹo và ghép da.

Kết luận:
Mụn là bệnh thường xảy ra và ảnh hưởng rất lớn đến giao tiếp xã hội, nghề nghiệp. Ðiều trị mụn thường ít kết quả vì các nguyên nhân gây mụn ít được chú ý và giải quyết triệt để. Sau khi bị mụn da mặt có nhiều sẹo xấu. Các sẹo nầy tuy vậy vẫn điều trị được bằng phẩu thuật thẩm mỹ