- TRANG CHỦ
- GIỚI THIỆU VỀ BÁC SĨ
Xung quang học - Công nghệ mới làm trẻ đẹp da và triệt lông
Làm trẻ đẹp bằng điện sinh học B.E.A.M
Trẻ hóa và trị khô da bằng điện ion PGA
Làm săn chắc da, căng da mặt cổ, thon gọn cơ thể và tan mỡ bụng, nọng càm bằng Radio Frequency
Kỹ thuật mới điều trị mụn
Điện ion vitamin E
Trẻ hóa da bằng điện di ion Placenta
Xóa nốt ruồi tàn nhang bằng laser
Cà da mặt
Siêu mài da
Điều trị mỡ thừa không mong muốn bằng Mesotherapy
Trẻ hóa da và xóa nhăn bằng Botox
Điều trị nhiều mồ hôi ở nách
Restylane
Restylane Vital- Công nghệ làm trẻ hóa da từ Thụy Điển
Trẻ đẹp không cần phẫu thuật
Trẻ hoá da nặt bằng điện Ion Vitamin C, trị da nám, thâm, nhăn, làm giảm da nhờn
Phân loại và phát đồ điều trị mụn
Giải phẫu thẫm mỹ bọng mỡ mi mắt
Phẫu thuật thẫm mỹ mũi
Phẫu thuật thẫm mỹ càm
 
Sách đã xuất bản - Những điều cần biết về phẩu thuật thẩm mỹ
Hỏi đáp về giải phẫu thẩm mỹ
Phụ nữ và phẫu thuật thẩm mỹ
Chuyển hóa mỡ và phẫu thuật tạo hình
Chứng rụng tóc
Tư vấn về mụn được đăng trên báo Khoa Học Phổ Thông
- LIÊN HỆ
 
 
 


NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ PHẨU THUẬT THẨM MỸ
BS. Trần Thiện Tư

----------------o0o----------------

Sách được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành.


Chương 1: Những phương pháp phẫu thuật thông thường trên cơ thể

01- Hút mỡ bụng
02- Chỉnh hình thành bụng
03- Hút mỡ và căng da cánh tay
04- Phẫu thuật nâng ngực
05- Phẫu thuật thu nhỏ tuyến vú
06- Phẫu thuật thẩm mỹ cho phụ nữ sau khi sinh
07- Điều trị thu nhỏ tuyến vú ở phái nam
08- Cà da mặt
09- Những thành tựu mới trong việc lột da mặt
10- Kỹ thuật lột da
11- Sau khi lột da mặt bằng TCA


Chương 2: Tái tạo Da 

12- Tái tạo da mặt
13- Vitamin C và sự lão hóa
14- Vitamin E và sự lão hóa
15- Ảnh hưởng của thuốc là đối với da
16- Biến đổi da khi lớn
17- Da mặt bị mất màu
18- Điều trị da mặt
19- Điều trị da bị lão hóa
20- Xóa nếp nhăn trên trán
21- Tiêm thuốc chống nếp nhăn ở mặt
22- Lột da mặt bằng TCA
23- Săn sóc sau khi lột da mặt
24- Căng da mặt có bị sẹo không?
25- Sau khi căng da mặt phải nghỉ việc bao lâu?
26- Sau khi căng da mặt bao lâu thì có thể tẩy lông mặt?
27- Sau khi căng da mặt bao lâu có thể gội đầu và sấy tóc được?
28- Phẫu thuật da mặt ở người cao tuổi
29- Nên chọn căng hay lột da mặt?
30- Có nên vừa lột da mặt vừa căng da mặt?
31- Sưng nề sau khi căng da mặt
32- Căng da bụng


Chương 3: Điều trị sẹo mụn

33- Nguyên nhân gây mụn
34- Các loại mụn 
35a- Mụn ở trẻ em
35b- Mụn ở người lớn
36a- Bệnh mụn thứ phát
36b- Cách điều trị mụn
37- Đề phòng và điều trị các loại mụn mặt mà không để lại sẹo thâm
38- Điều trị sẹo mụn
39- Điều trị mụn kéo dài
40- Dùng sữa bò tươi trị sẹo mụn trứng cá
41- Điều trị sẹo mụn ở mặt 
42- Thuật cà sẹo
43- Điều trị sẹo mặt do thủy đậu
44- Điều trị sẹo lồi do xỏ lỗ tai
45- Điều trị sẹo mới ở mặt
46- Sẹo do bị rạch mặt
47- Thiếu da ghép sẹo mặt
48- Điều trị sẹo bỏng lớn ở đầu và cổ
49- Điều trị nhiều sẹo cổ
50- Điều trị sẹo lồi ở mặt do hóa chất
51- Làm mất hoàn toàn sẹo trán
52- Sẹo vùng cổ do dùng thuốc gia truyền
53- Điều trị thẩm mỹ áp xe vùng mặt
54- Điều trị sẹo ở chân
55- Điều trị sẹo ở chân do bị bỏng
56- Điều trị sẹo bỏng ở bàn tay
57- Xóa các vết sẹo nhỏ ở bàn tay
58- Điều trị sẹo ở ngón tay
59- Xóa sẹo bằng laser
60- Điều trị sẹo lồi ở vết mổ
61- Thời gian cắt chỉ vết thương ở mặt
62- Cà da trên mảnh da được ghép


Chương 4: Xóa nốt ruồi, vết xăm


63- Điều trị nốt ruồi ở đuôi mắt
64- Nốt ruồi ở mi mắt
65- Nốt ruồi dễ bị chảy máu ở da mặt
66- Điều trị các nốt đen trên mặt
67- Phẫu thuật xóa vết xăm ở chân mày
68- Xóa vết xăm lem ở mi dưới
69- Xóa vết xăm bằng bàn là?
70- Xóa vết xăm còn mới
71- Xóa bớt đen trên mặt
72- Bớt đỏ vùng má và cổ trái
73- Điều trị bớt đen vùng mặt bằng laser
74- Phẫu thuật làm mỏng môi
75- Sưng sau khi cắt môi
76- Dị tật môi và mũi do hở hàm ếch
77- Nổi mụn nhỏ sau khi xăm môi
78- Phẫu thuật thẩm mỹ môi sau khi bơm môi
79- Cấy lông mi
80- Lông mi cấy có đẹp vĩnh viễn không?
81- Cấy lông mày
82- Thuốc mọc lông mày
83- Phẫu thuật nâng chân mày
84- Xóa vết quầng thâm ở mắt và vết lem ở hai bên mép
85- Cắt mi mắt có đau lắm không?
86- Phẫu thuật thẩm mỹ mắt cho mắt sụp
87- Nguy hiểm của giải phẫu thẩm mỹ mi mắt
88- Sưng má và chảy nước mắt sau phẫu thuật thẩm mỹ
89- Sẹo biến chứng khi cắt mi dưới
90- Điều trị sẹo trên mi mắt
91- Mắt bị lõm do chấn thương mặt
92- Điều trị sẹo kéo lệch mi mắt
93- Điều trị sẹo mi mắt bằng thuốc thống sẹo
94- Phẫu thuật vá lỗ tai
95- Vá lại nơi rách tai khi bị tiểu đường, cao huyết áp

Đôi điều về phẫu thuật thẩm mỹ 

Phẫu thuật thẩm mỹ là bộ môn y học làm đẹp cho con người, làm đẹp cho cuộc sống. Nhờ sự can thiệp của ngành giải phẫu thẩm mỹ hiện đại, đã có nhiều người tự tin và thành công hơn trong sự nghiệp, tình yêu, hạnh phúc gia đình. Không ít bệnh nhân đã xóa được hoàn toàn mặc cảm về dị tật bẩm sinh, những khiếm khuyết của cơ thể do tai nạn.

Yêu cầu phẫu thuật

- Tự người cần thẩm mỹ yêu cầu. Các khách nhỏ tuổi thì thường được cha mẹ hỗ trợ.

- Giải phẫu thẩm mỹ được thực hiện nhằm làm cho khách hàng đẹp hơn, theo đúng ý muốn của họ. Khách được giải thích để biết trước các kết quả có thể đạt được, những nguy hiểm có thể xảy ra để quyết định chấp nhận hay không.

- Yêu cầu của phẫu thuật viên đối với khách là các thân chủ hoàn toàn trưởng thành, khỏe mạnh và không bị bất cứ bệnh gì về thể chất cũng như về tinh thần, không nghiện rượu, ma túy…

 Các loại phẫu thuật thông thường  

Theo thống kê của Hội Phẫu thuật Tạo hình và Thẩm mỹ Mỹ, các phẫu thuật thẩm mỹ bao gồm:

- Chỉnh hình mũi: Là phẫu thuật được thực hiện nhiều nhất, nhằm làm cho mũi thẳng lại, giải quyết chỗ gồ ở giữa mũi hoặc làm cho đầu mũi nhỏ, đẹp lại (ở những người đầu mũi quá to và xấu). Thường phẫu thuật mũi chỉ được thực hiện khi mũi phát triển đầy đủ, tức là khoảng 15-16 tuổi ở phái nữ và lớn hơn một tuổi ở phái nam.

- Làm nhỏ ngực: Áp dụng cho một số phụ nữ ngực quá to, gây trở ngại cho tâm lý và sinh hoạt. Phẫu thuật này thường cũng được thực hiện khi ngực đã phát triển hoàn toàn.

- Phẫu thuật tai: Nhằm điều trị tật tai vểnh, được thực hiện sau 5 tuổi.

- Giải quyết mụn và các vết sẹo do mụn: Nhờ có thuốc Retin-A, việc điều trị mụn ngày nay khá dễ dàng, có thể giải quyết các sẹo mụn để làm cho gương mặt đẹp trở lại.

- Giải quyết bệnh phát triển bất thường của vú nam giới: Bệnh này làm cho một hoặc hai bên vú của phái nam có dạng giống vú phụ nữ. Thường thực hiện cho người trên 16 tuổi.

- Độn ngực: Làm vú to lên ở những người có tuyến vú kém phát triển, được thực hiện khi cơ thể phát triển đầy đủ, thường là trên 18 tuổi.

 - Phẫu thuật giúp hai vú đều nhau: Sự bất đối xứng không phải chỉ ở kích thước lớn nhỏ mà còn ở vị trí cao thấp.

Độn cằm: Có thể thực hiện từ 15 tuổi trở lên, thường làm cùng lúc với nâng mũi.

- Hút mỡ ở một số vị trí cần thiết như đùi hoặc mông: Đây không phải là phẫu thuật làm cho gầy đi bớt. Một số người có trọng lượng cơ thể bình thường vẫn muốn làm phẫu thuật này để làm nổi rõ các đường cong cần thiết của cơ thể.

Chương 1: Những phương pháp phẫu thuật thông thường trên cơ thể   

01- Hút mỡ bụng

Trên thế giới, phẫu thuật hút mỡ ngày càng được thực hiện nhiều và có nhiều tiến bộ (an toàn, đơn giản, kết quả cao). Trong các vị trí được hút mỡ, vùng bụng dưới rốn là nơi dễ cho kết quả tốt nhất.

Hút mỡ bụng thường được thực hiện bằng hai đường rạch da nhỏ (độ 1cm) ở phía dưới hai bên bụng và một đường ở phía dưới rốn. Bác sĩ sẽ cho ống hút nhỏ vào hút lượng mỡ thừa ở bụng. Trước đây, ống hút được sử dụng khá lớn, gây nhiều sang chấn cho da bụng và khiến vùng bụng có nhiều gợn sóng nhỏ, không được bằng phẳng sau khi hút. Ngày nay, người ta hút với ống nhỏ hơn, thời gian phẫu thuật dài nhưng kết quả tốt hơn. Tuy nhiên, để được kết quả này, da bụng cần săn chắc và đàn hồi tốt. Đối với da bụng mịn và nhão quá, hoặc có quá nhiều vết rạn do mang thai nhiều lần, cần phẫu thuật cắt bớt da và chỉnh hình thành bụng.

02- Chỉnh hình thành bụng    

* Phương pháp vô cảm

Phương pháp thường dùng là gây tê tại chỗ với thuốc an thần nhẹ. Càng ngày, người ta càng ít dùng phương pháp gây mê vì thời gian hậu phẫu kéo dài và nguy hiểm hơn so với gây tê tại chỗ.

* Thời gian hậu phẫu

Sau mổ, người được phẫu thuật bị đau nhẹ vùng mổ độ vài ngày, bụng vẫn còn căng phồng trong hai hoặc ba tuần. Các vết mổ được cắt chỉ một tuần sau. Trong 10 ngày đầu, bệnh nhân phải mang gaine (gen) để ép chặt vùng bụng mổ cả ngày lẫn đêm; 10 ngày tiếp theo chỉ cần mang gaine ban ngày. Sau một tháng, kết quả thấy rõ; nhưng phải 3 đến 6 tháng sau, da bụng mới phủ lên vùng mổ tự nhiên và đẹp hoàn toàn được.

03- Hút mỡ và căng da cánh tay

Ở một số người, cánh tay quá to do ứ đọng nhiều mô mỡ, khiến họ rất ngại khi mặc áo sát nách. Phẫu thuật thẩm mỹ có thể giải quyết các trường hợp này bằng cách hút mỡ và căng da.

Ở những người trẻ, da còn đàn hồi tốt, chỉ cần hút mỡ không cũng đủ. Nhưng ở những người lớn tuổi, sau khi hút mỡ, da thường bị thừa ra và thòng xuống, trông không được gọn và đẹp. Vì vậy, cần phải căng da lại và cắt bỏ da thừa.

Để tránh sẹo, khi làm phẫu thuật cắt bỏ da, người ta thường mổ mặt trong của cánh tay, đường mổ có thể kéo dài đến nách.

* Phương pháp vô cảm

Tùy trường hợp, có thể dùng phương pháp gây tê tại chỗ hoặc gây mê. Gây tê tại chỗ kết hợp với thuốc an thần được áp dụng trong đa số trường hợp. Trong một số trường hợp đặc biệt, bác sĩ có thể áp dụng phương pháp gây mê.

* Sau mổ

Cánh tay sẽ bị căng, đau khi đưa tay lên trong vòng vài ngày sau phẫu thuật. Cánh tay phải được quấn băng lại trong vòng hai tuần. Trong vòng 6 tháng sau khi mổ, sẹo nơi mổ sẽ có màu hồng. Nó sẽ mờ dần sau một năm.

04- Phẫu thuật nâng ngực  

Ở một số phụ nữ mới sinh con, lớn tuổi hoặc bị sụt cân quá nhiều, tuyến vú thường bị thòng xuống thấp. Phẫu thuật thẩm mỹ có thể chỉnh hình và làm tuyến vú gọn, đẹp lại như hồi trẻ. Phẫu thuật này có thể thực hiện theo phương pháp vô cảm tại chỗ (gây tê tại chỗ) hay gây mê. Tùy theo từng trường hợp (ngực bị thòng nhiều hay ít), sau khi mổ, bệnh nhân có thể có sẹo nhỏ vòng quanh phần da đỏ của đầu vú, hay sẹo hình T ngược từ phần da đỏ của vú xuống dưới.

* Sau mổ

Nơi mổ được cắt chỉ sau 15 ngày. Người được phẫu thuật cần băng ép hoặc mang nịt vú chặt cả ngày và đêm trong một tháng.

05- Phẫu thuật thu nhỏ tuyến vú  

Kỹ thuật mổ nhằm thu lại tuyến vú quá lớn, gây đau lưng và trở ngại cho một số hoạt động về thể dục, thể thao... Sự phát triển quá mức của tuyến vú bắt đầu từ tuổi dậy thì. Để càng lâu, việc phẫu thuật càng trở nên khó khăn hơn vì với trọng lượng của tuyến vú, da sẽ bị giãn ra, thòng xuống. Do đó, thời gian tốt nhất để phẫu thuật là khoảng 14-15 tuổi; vì vào thời điểm này, da săn chắc, đàn hồi tốt. Ở người lớn tuổi, bác sĩ phải mổ bỏ da, mỡ và một phận mô tuyến vú. Phẫu thuật phức tạp hơn và sẹo sẽ rõ hơn.

* Sau mổ

Ngực sẽ được băng ép trong 15 ngày, sau đó được thay bằng nịt vú ép chặt ngày đêm trong vòng một tháng. Chỉ nên tập thể dục sau hai tháng sau.

06- Phẫu thuật thẩm mỹ cho phụ nữ sau khi sinh  

Khi đã trở thành người mẹ, bạn không thể đẹp như thời chưa mang thai được. Hầu hết phụ nữ đều hạnh phúc khi được mang thai và trở thành người mẹ. Tuy nhiên, với một số người, sự thay đổi trên cơ thể khi mang thai làm họ kém vui. Khi này, phẫu thuật thẩm mỹ không những sẽ giúp họ phục hồi dáng vẻ trước khi mang thai mà còn cải thiện nó. Các phẫu thuật giúp phụ nữ sau khi sinh lấy lại dáng vẻ trước khi mang thai gồm có:

Phẫu thuật độn ngực

Trong thời gian mang thai, vú căng lên do sự phát triển của các tuyến nhằm tạo ra sữa nuôi con. Một số người có băn khoăn là việc cho con bú sẽ làm ngực mình xấu đi. Điều này không đúng, việc cho con bú sữa mẹ rất tốt cho sự phát triển cơ thể của cháu bé, đồng thời kích thích sự phát triển của cơ thể người mẹ và tạo tình mẫu tử gắn bó cho cả hai mẹ con. Sau thời gian cho con bú, các tuyến tiết sữa hết hoạt động có teo nhỏ lại, làm cho vú bị nhỏ đi so với lớp da bao bọc chung quanh. Để vú to trở lại và tiếp tục căng phồng như trước, cần phẫu thuật độn vú bằng túi nước biển. Phẫu thuật này cũng đơn giản, người ta độn vào dưới tuyến vú hoặc dưới cơ ngực một túi nước, sau đó vú sẽ căng trở lại như bình thường.

Phẫu thuật cố định vú cao hơn

Một số người, sau nhiều lần có thai và cho con bú, da vùng tuyến vú bị giãn ra, làm cho tuyến vú bị hạ thấp xuống dưới vị trí bình thường mà các cố gắng tập thể dục đều không khắc phục được. Phẫu thuật thẩm mỹ có thể giải quyết trường hợp này bằng cách cắt bớt da và cố định vú về vị trí cũ. Đây là phẫu thuật treo vú (mastopexie). Sau phẫu thuật, tuyến vú sẽ gọn và chắc hơn.

Phẫu thuật chỉnh hình thành bụng

Bụng là nơi chứa thai nhi trong hơn 9 tháng, do đó da và các tổ chức thành bụng bị thay đổi. Phẫu thuật thẩm mỹ có thể điều trị trường hợp này bằng cách hút mỡ, cắt bớt da và may các cơ bụng cho chặt lại.

Hút mỡ

Một số vị trí như hông, đùi, lưng hoặc cánh tay có thể ứ đọng nhiều mỡ, làm cơ thể mất cân đối và kém đẹp. Việc phẫu thuật hút mỡ các vị trí này sẽ làm cơ thể gọn, đẹp hơn.

Phẫu thuật bộ phận sinh dục ngoài

Khi sinh, phần ngoài bộ phận sinh dục có thể bị rách hoặc giãn rộng. Phẫu thuật chỉnh hình âm hộ (labioplasty) giúp làm đẹp và hẹp lại phía ngoài cơ quan sinh dục nữ.

Điều trị vết nám mặt sau khi sinh

Vài nghiên cứu cho thấy khoảng 3/4 phụ nữ khi mang thai có thể bị nám da mặt chút ít. Nếu vết nám nằm ở biểu bì, có thể điều trị bằng cách lột da mặt.

Là phụ nữ đang mang thai lần đầu hoặc sắp sửa mang thai, bạn sẽ băn khoăn nhiều về việc tình trạng mang thai và nuôi con bằng sữa mẹ sẽ gây một số thay đổi trên cơ thể. Phần lớn những thay đổi này có thể giải quyết được nhờ phẫu thuật thẩm mỹ. Đây là một đóng góp quan trọng của ngành phẫu thuật trong việc đem lại niềm vui, hạnh phúc cho gia đình. Vì vậy, bạn có thể yên tâm vì đã có cách giải quyết tốt đẹp cho những thay đổi của cơ thể trong thời gian tới.

07- Điều trị thu nhỏ tuyến vú ở phái nam

Ở phái nam có một số người vú đặc biệt phát triển giống như nữ giới. Đó là bệnh vú nam bị hóa (gynecomastia). Tình trạng này có thể xảy ra ở một hay hai bên ngực và chiếm tỷ lệ khá cao, có thể từ 40 đến 60%, theo thống kê ở Mỹ.

Nguyên nhân là do dùng một số thuốc nào đó (thuốc có kích thích tố nữ, hoặc thuốc giúp lên cân có chất corticoides), do bị bệnh về gan hoặc nội tiết. Bất thường này có thể điều trị bằng phẫu thuật. Đặc biệt, phẫu thuật thẩm mỹ có thể điều chỉnh ngực trở lại hoàn toàn bình thường với rất ít sẹo nơi mổ.

Người cần phẫu thuật phải hoàn toàn bình thường về thể chất lẫn tinh thần. Những người quá nặng cân, nghiện rượu hay nghiện ma túy không phải là đối tượng cho phẫu thuật này. Bác sĩ sẽ khuyên họ ngừng dùng các loại thuốc gây nên tình trạng trên. Nếu ngực bình thường trở lại thì không cần phẫu thuật.

Trước khi phẫu thuật, cần tìm nguyên nhân gây gynecomastia như rối loạn chức năng gan, dùng các loại thuốc có kích thích tố nữ, hoặc các loại thuốc giúp lên cân có chất corticoides. Bệnh nhân cũng được chụp X-quang tuyến vú, không chỉ để loại trừ khả năng ung thư vú mà còn để biết cấu trúc tuyến vú có nhiều mô mỡ hay nhiều tổ chức tuyến để chọn đường phẫu thuật thích hợp.

Chuẩn bị phẫu thuật

Tùy trường hợp, bệnh nhân sẽ được dặn về chế độ ăn uống và dùng một số thuốc trước.

Một số điều cần lưu ý

- Nên ngưng hút thuốc một hoặc hai tuần trước khi mổ và trong thời gian mổ cho đến khi vết mổ lành hẳn, vì thuốc lá gây chậm lành vết mổ.

- Đa số người bệnh có thể ra về sau phẫu thuật, nhưng một số ít trường hợp cần nằm lại qua đêm. Bác sĩ phẫu thuật sẽ cho biết cụ thể.

- Tùy trường hợp, có thể gây tê tại chỗ hoặc gây mê.

Phẫu thuật có thể tiến hành theo nhiều cách. Đa số là mổ theo đường vòng quanh núm vú, tức là ở giới hạn giữa da đỏ và da trắng ở vú. Có thể kết hợp hút mỡ hoặc cắt bớt da ở ngực khi cần.

Sau phẫu thuật

Vùng ngực sẽ được quấn băng chặt trong vài ngày. Quanh chỗ mổ sẽ sưng nề trong vài tuần, có khi vài tháng. Bạn sẽ được khuyên đi lại bình thường một vài ngày sau mổ và sẽ được cắt chỉ một hoặc hai tuần sau.

- Hoạt động tình dục nên hạn chế trong một hoặc hai tuần.

- Cử động mạnh có thể thực hiện sau ba tuần. Tránh các môn thể thao có thể va chạm, gây sang chấn vùng ngực mới mổ trong ít nhất 4 tuần.

- Trong sáu tháng đầu nên tránh nắng vùng mổ vì có thể gây sẹo thâm đen, xấu. Khi ra nắng (như tắm biển) nên dùng kem chống nắng.

Các nguy hiểm có thể gặp do phẫu thuật

Giống như các phẫu thuật khác, người có nhu cầu phẫu thuật điều trị vú bị nữ hóa được biết trước về một số biến chứng có thể xảy ra (dù rất ít) như:

- Nhiễm trùng.

- Tổn thương da ngực.

- Chảy máu nhiều khi mổ.

- Phản ứng với thuốc tê.

- Ứ đọng dịch trong tuyến vú một thời gian.

- Nơi mổ bị sẹo xấu.

- Đầu vú bị biến dạng.

Sau phẫu thuật, nếu hai bên vú không đều, không đối xứng nhau, phải phẫu thuật lại sau một thời gian.

Người được giải phẫu cần đồng ý và chấp nhận các rủi ro nếu có (không do ý muốn của bác sĩ giải phẫu).

Phẫu thuật điều trị bệnh nữ hóa tuyến vú ở phái nam có kết quả tốt và lâu dài. Nếu áp dụng kỹ thuật mổ theo phương pháp thẩm mỹ, sẹo nơi mổ rất nhỏ và ngực trở lại gần như hoàn toàn giống ngực nam giới bình thường.

08- Cà da mặt   

Cà da mặt là phương pháp điều trị rất có kết quả trong trường hợp da mặt bị gồ ghề, xấu do sẹo mụn, chấn thương hay do phẫu thuật. Ngoài ra, cà da mặt còn được dùng trong một số trường hợp đặc biệt như:

- Da mặt bị lão hóa do ánh nắng mặt trời.

- Điều trị mụn đang tiến triển do da mặt quá dày.

- Bệnh nhân điều trị mụn rất nhiều bằng kháng sinh nhưng không đạt kết quả.

Phẫu thuật cà da mặt khá phức tạp, đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kiến thức đầy đủ cũng như kinh nghiệm về phẫu thuật.

Dù việc cà da mặt đã được người Ai Cập thực hiện 1.500 năm trước công nguyên nhưng các phẫu thuật cà da hiện đại chỉ mới được thực hiện từ năm 1905 do Kromeyer, phẫu thuật viên người Đức thực hiện nhằm giải quyết các sẹo mụn. Kromeyer đã công bố rằng, phương pháp mới dùng máy cà da rất có kết quả trong phẫu thuật về da. Tác giả cũng cho biết nếu không cà vượt quá tầng hạ bì thì kết quả sẽ tốt, không bị sẹo. Kết quả của nơi cà da đẹp hay xấu là tùy theo từng vùng và theo từng người một. Các nhận định này rất quan trọng và làm nền tảng cho phẫu thuật về da sau này.

Từ thập niên 1980 đã có một số tiến bộ trong cà da như sau:

- Yarborough giới thiệu phương pháp cà da sớm để giải quyết các sẹo do chấn thương.

- Johnson đề nghị ghép da rời từng khúm nhỏ để giải quyết các sẹo sâu.

- Hankke nói rõ tác dụng của nhiều loại thuốc tê lạnh tại chỗ trong việc gây tổn thương da. Ông cũng cho biết có thể dùng phương pháp cà da để điều trị u sợi thần kinh.

- Mandy nghiên cứu việc dùng tretinoin trước khi cà da.

- Pinskin và các tác giả khác nghiên cứu tác dụng của các gạc có thấm chất sinh học trong việc làm lành sẹo nơi cà da.

Từ năm 1990 về sau, cà da mặt đã thành một chuyên ngành ổn định để làm phẳng lại da mặt bị lồi lõm do chấn thương hay bệnh tật.

Các chỉ định cà da mặt gồm có:

- Mụn đang tiến triển.

- Sẹo do mụn.

- Sẹo do chấn thương.

- Sẹo do phẫu thuật.

- Da bị lão hóa do ánh nắng mặt trời.

- Điều trị các nếp nhăn ở mặt.

- Rối loạn sắc tố.

- Xóa vết xăm ở da: Tình trạng da bị chấn thương, dính các dị vật vào giống như bị xăm có thể điều trị rất tốt bằng phương pháp cà da. Việc cà da nếu được thực hiện ngay sau khi bị thương, sẽ phòng ngừa được tình trạng da bị thâm đen. Nhưng nếu người bệnh đến bác sĩ muộn, vết thương đã lành da non rồi thì phải chờ đến 8 tuần sau mới nên cà da. Cà da trong giai đoạn này ngoài việc lấy dị vật còn giúp cho sẹo do chấn thương được đẹp.

Xóa vết xăm thẩm mỹ thường khó khăn nếu vết xăm khá sâu. Thường chỉ nên cà da xóa vết xăm cho người trên 25 tuổi, thực sự muốn xóa vết xăm và tâm lý hoàn toàn ổn định.

- Bệnh mũi bị biến dạng, sần sùi giống mũi lân (Rhinophyma).

- Bệnh u sợi thần kinh ở da: Khoảng 85% bệnh nhân bị u sợi thần kinh có bệnh tích ở mặt, làm cho da mặt xấu đi nhiều. Phẫu thuật sẽ giải quyết các khối u lớn, nhưng không thể mổ hàng trăm u nhỏ. Do đó, cà da mặt là biện pháp tốt nhất để giải quyết các trường hợp này.

- Bệnh Trichóepithelioma: Là loại u ngoài da, gây biến dạng da mặt rất nhiều. Một số trường hợp có thể thoái hóa thành ung thư tế bào đáy ở da. Phương pháp cà da mặt điều trị bệnh này cho kết quả rất tốt. Có ít trường hợp bệnh tái phát.

 
09- Những thành tựu mới trong việc lột da mặt

Lột da mặt là phương pháp lấy bớt lớp ngoài của da (danh từ y học là tầng sừng) gồm các tế bào da bị thoái hóa, dày lên và chứa đựng nhiều bệnh tích của sự lão hóa. Thuốc lột thường là các hóa chất, tác dụng lên da mặt, ăn mòn các lớp da phía ngoài. Tùy theo độ sâu của lớp da bị ăn mòn, người ta chia lột da mặt làm ba loại:

- Lột nhẹ: Lấy hết lớp biểu bì đến tầng tế bào đáy nằm giữa phần biểu bì và bì.

- Lột trung bình: Độ sâu đến phần gai bì của da.

- Lột sâu: Phần da lột sâu đến phần tổ chức mạng của da.

Yêu cầu đối với thuốc lột mặt là cách dùng đơn giản nhất, ít biến chứng cho da mặt và ít nguy hiểm cho sức khỏe người sử dụng. Với các yêu cầu đó, thuốc lột da bằng axit trichloroacetic (gọi tắt là TCA) đáp ứng được các yêu cầu đó. Thuốc này không độc cho cơ thể, không gây dị ứng. Các dung dịch pha vào nước có thể dùng ở các nồng độ khác nhau khi cần thiết. Sau khi pha chế, thuốc có thể giữ được khoảng hai năm.

10- Kỹ thuật lột da

Da mặt cần được chuẩn bị sạch trước hai tuần. Người bệnh cần sẵn sàng để lột, không trang điểm khi đến phòng mạch. Da mặt được làm sạch bằng axit glycolic 5%, sau đó sát trùng với cồn 70 độ. Không dùng acetone hay các chất tẩy da khác để rửa da vì các chất này có thể làm cho bệnh nhân khó chịu và khiến TCA ngấm vào sâu hơn trong da. Tác dụng của các chất thuốc rửa da là làm sạch lớp biểu bì, làm cho mỏng và sạch lớp tầng sừng. Nếu cần lột da sâu, có thể tăng nồng độ axít hoặc lột da bằng cách thoa thuốc nhiều lần.

Sau khi rửa sạch da, khách được đặt nằm trên bàn mổ (đầu cao khoảng 45 độ). Tư thế này làm cho thuốc lột không chảy vào mắt. Không cần sử dụng máy theo dõi nhịp tim mặc dù có thể bác sĩ muốn có sẵn đường truyền tĩnh mạch để truyền các thuốc an thần. Cảm giác bị nóng do lột bằng TCA thường nhẹ và sẽ hết trong vài phút.

Cách lột da được áp dụng chung cho tất cả các dung dịch thuốc lột có nồng độ khác nhau. Bác sĩ sẽ dùng miếng gạc nhỏ xếp lại làm đôi để bôi thuốc TCA lên da. Dùng que bông để bôi thuốc lên da cũng được nhưng không đủ mạnh để thuốc thấm đều lên da.

TCA là hóa chất có tác dụng tốt và làm đông chất protein ở da, làm cho da trắng  nhanh và càng căng vùng trắng. Tính chất khi lột nhẹ và lột trung bình có thể sắp theo thứ tự như sau:

Da không có màu trắng: Da có vẻ bóng và láng hơn nhưng không thay đổi màu sắc. Đây là trường hợp chỉ lột lớp biểu bì bên ngoài.

Da có trắng nhẹ không đều: Thêm vào vẻ bóng sáng của da, trên da thấy rải rác các điểm trắng. Đây là lột da sâu giữa lớp biểu bì.

- Da trắng hoàn toàn với màu hồng phía dưới: Là lột da sâu đến tầng đáy của biểu bì.

- Da trắng cứng và không có lớp hồng ở dưới: Đây là lột da sâu đến hết gai bì và bì.

 

Người ta dùng TCA nồng độ từ 10% đến 25% để lột da ở sâu biểu bì và nồng độ 30% đến 40% để lột da sâu đến gai bì và bì. Chiều sâu của lớp da được lột phụ thuộc vào sự chuẩn bị trước, độ nhờn, bề dày của da, số lượng chất axit được dùng. Việc bôi lại chất axit trên da đã trắng sẽ làm axit thấm sâu vào da hơn. Do đó, để an toàn, nên dùng TCA nồng độ thấp và bôi nhiều lần khi cần.

Sau khi bôi thuốc, lột đến độ sâu cần thiết, bác sĩ sẽ lau mặt người bệnh với nước thông thường. Điều này giúp pha loãng chất axit ứ đọng, ngăn không cho axit thấm sâu. Sau đó, thoa da bằng kem Hydrocortisone 1% cho da được ướt đều. Điều này làm bệnh nhân dễ chịu và giảm cảm giác ngứa.

 
11- Sau khi lột da mặt bằng TCA

Người được bôi thuốc TCA nên rửa mặt hai lần mỗi ngày với các loại xà phòng rửa mặt nhẹ và bôi da bằng kem Hydrocortisone 1% thường xuyên cho da được mềm. Không cần bôi kháng sinh. Các trường hợp lột mặt mạnh (sâu trung bình) có thể uống kháng sinh trong 5-7 ngày sau khi lột da. Vì việc lột da không tạo vết thương hở nên không cần dùng kháng sinh trước và trong khi lột da.

Nếu bị nhiễm trùng da (do vi trùng staphylococcus hay streptococcus, hiếm gặp), nên dùng thuốc kháng sinh cephalosporin, uống ngày hai lần.

- Lột nhẹ (biểu bì): Lành trong 3 đến 4 ngày.

- Lột sâu hơn (gai bì): Lành trong 6 đến 8 ngày.

Điều quan trọng là 48 giờ sau khi da lột được lành, bệnh nhân phải dùng thuốc Retin-A hay axit alphahydroxy cùng với hydroquinone và thuốc che nắng phổ rộng. Da trở lại bình thường sau khi bôi thuốc hai tháng. Trong thời gian đó, bệnh nhân phải tránh nắng, được theo dõi và dùng thuốc dưỡng da thích hợp.

Do không gây các vết thương sâu nên các biến chứng như sẹo, nhiễm trùng, da bị đỏ kéo dài và mất màu vĩnh viễn rất ít xảy ra.

Kết quả của phương pháp lột da bằng TCA theo thời gian

Lột da sâu có kết quả rất lâu. Với phương pháp lột nhẹ, nếu có dùng thêm các thuốc dưỡng da thì kết quả lâu hơn, có thể kéo dài đến cả năm (nếu không dưỡng da, kết quả chỉ được khoảng 3 tháng). Ở các trường hợp lột sâu, tác dụng kéo dài đến nhiều năm.

Thời điểm bôi thuốc lột lần kế tiếp được xác định tùy theo lần lột đầu là nhẹ hay mạnh. Nếu lột nhẹ, có thể lột lại sau một hai tuần. Nếu lột sâu trung bình, cần chở 6 tuần và nếu lột sâu thì phải chờ ít nhất 2 tháng.  

Tóm lại, TCA là thuốc lột da mới dễ dùng và ít tai biến, là phương tiện an toàn để làm trẻ hóa da mặt, đem lại mùa xuân cho da mặt, góp cơ thể con người.

 

Chương 2: Da

12- Tái tạo da mặt

Phân biệt các loại da và cách chăm sóc

"Cháu 18 tuổi, hay nổi nhiều mụn. Bác sĩ da liễu nói cháu bị da dày, nhờn. Da dày là gì? Có bao nhiêu loại da mặt và cách chăm sóc như thế nào?".

Nói một cách tổng quát, da mặt được chia làm ba loại: da nhờn, da khô và da mịn. Da nhờn thường dày, dễ bị mụn. Để phân biệt các loại da, cháu có thể đọc bảng phân loại như sau:

Loại da Chẩn đoán Nên tránh Săn sóc và điều trị
Nhờn

- Da dày và bóng.

- Phần dày thấy rõ ở giữa mặt, nhất là mũi, rãnh giữa mũi và má.

- Các lỗ chân lông giãn rộng.

- Nhiều chất nhầy, nhất là ở mũi và cánh mũi.

- Đèn cho sạm da.

- Tia tử ngoại của mặt trời (cần dùng kem chống nắng).

- Các chất có thể gây mụn.

- Xà phòng có glycérine

- Dùng xà phòng nhiều dầu.

- Thoa kem có chất gôm mỗi tuần hai lần, sau đó rửa sạch.

- Kem chống nhờn.

Khô

- Da căng và nhám.

- Có cảm giác căng, bị châm chích, bị bỏng nhẹ ở mặt.

- Da kém mềm và kém đàn hồi.

- Xà phòng tẩy mạnh.

- Các dung dịch có pha rượu.

- Nước có chất vôi.

- Dùng xà phòng nhiều.

- Xà phòng nhiều dầu amandes douces.

- Kem nuôi da và giữ nước.

- Rửa mặt cẩn thận và chậm lau khô.

Mịn (nhạy cảm)

- Da mỏng, trong.

- Da trắng, hồng, trong suốt.

- Da sáng, lóng lánh.

- Da dễ tổn thương khi bị lạnh, gió hoặc nóng quá.

- Có cảm giác kéo căng, châm chích hay ngứa da.

- Thuốc thoa có rượu.

- Ánh nắng mặt trời mùa hè hay mùa đông.

- Dùng dung dịch cho nhiều nước, nhiều chất mỡ.

- Xà phòng nhiều dầu.

- Rửa mặt nhẹ và cẩn thận.

Khi đã biết da mặt thuộc loại nào rồi, cần săn sóc da theo hướng dẫn trên để có làn da đẹp, đỡ bị mụn và lâu lão hoá.
 

13- Vitamin C và sự lão hóa

"Nghe nói việc ăn trái cây giúp ta lâu già vì trái cây có nhiều vitamin C. Điều đó có đúng không? Vai trò của vitamin C trong việc ngăn chặn sự lão hóa như thế nào?".

Đúng là trái cây rất tốt cho sức khỏe. Trong trái cây, ngoài vitamin C ra còn có rất nhiều vitamin khác và chất đạm thực vật dễ tiêu hóa, ít gây hại cho sức khỏe hơn thịt lợn, thịt bò.

Người thiếu vitamin C có thể bị bệnh Scorbut (một bệnh gây sốt nhẹ, thiếu máu, chảy máu ở lợi, rối loạn tiêu hóa, suy kiệt, có thể dẫn đến tử vong). Ngày xưa, bệnh này thường xảy ra ở các thủy thủ sống một thời gian dài trên biển, không ăn rau quả.

Năm 1928, Szent Goryi đã tìm ra vitamin C từ rau cải. Phát hiện của ông đã được giải Nobel năm 1937. Cơ thể con người không thể tổng hợp được vitamin C cũng như một số vitamin cần thiết khác. Do đó, con người cần dùng thức ăn có nhiều vitamin C. Nhu cầu về vitamin C hằng ngày của người khỏe mạnh hoàn toàn là 60-100 mg. Nhu cầu này gia tăng ở phụ nữ mang thai, người cho con bú, sau phẫu thuật, đang dưỡng bệnh hay vận động cơ thể nhiều.

Ngày nay, tình trạng thiếu vitamin C vẫn còn xảy ra do cách ăn uống chưa hợp lý. Việc nấu nướng thức ăn quá lâu, dùng nhiều các thực phẩm đóng hộp... có thể gây thiếu hụt vitamin C. Bên cạnh đó, việc hút thuốc lá và uống rượu làm gia tăng nhu cầu về vitamin C mỗi ngày. Ở một số người, dinh dưỡng kém, rối loạn về hấp thụ ở ruột cũng gây ra thiếu vitamin C mạn tính. Việc bổ sung vitamin C thường xuyên bằng cách ăn trái cây hoặc uống thuốc sẽ khiến tình trạng sức khỏe được cải thiện rõ rệt (về thể chất cũng như về tâm lý).

Vitamin cũng có tác dụng chống ôxy hóa. Nó tham dự vào rất nhiều phản ứng biến dưỡng của tế bào cơ thể. Lượng vitamin C dự trữ ở máu và ở các tế bào giảm dần khi già. Nhiều người băn khoăn về việc có thể làm chậm sự lão hóa bằng cách bắt đầu dùng nhiều vitamin C từ một lứa tuổi nào đó không? Câu hỏi này đến nay chưa có giải đáp.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, vitamin C có khả năng:

- Kích thích chức năng miễn dịch của cơ thể, làm mạnh thêm các thuốc tiêm phòng, nhất là thuốc phòng cảm cúm. Được chỉ định trong trường hợp nhiễm trùng kéo dài như herpes, zona, viêm nhiễm đường hô hấp ở người có cơ địa dị ứng.

- Làm lành sẹo nhanh, có hiệu quả tốt trong sự biến dưỡng sụn ở các người có bệnh về sụn khớp.

- Phòng ngừa bệnh xơ mỡ động mạch bằng cách làm giảm chất mỡ, triglycerid và cholesterol trong máu.

- Bảo vệ cơ thể, làm giảm độc ở người uống rượu hay hút thuốc.

- Tăng cường sức mạnh cơ bắp và làm chậm cảm giác mệt mỏi khi vận động, chơi thể thao.

Một số nhà khoa học còn cho rằng vitamin C có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh ung thư, nhất là ung thư dạ dày.

Vitamin C được thải ra nhanh theo đường tiểu, do đó nếu dùng nhiều cũng không sợ bị quá liều

 14- Vitamin E và sự lão hóa   

"Tôi mới 45 tuổi mà da bị nhăn nhiều, trông già hơn tuổi. Một vài người bạn khuyên nên uống vitamin E. Vitamin E có thể làm trẻ trung được không? Tôi rất ngại uống thuốc, thay vì uống vitamin E tôi có thể ăn các thức ăn nào?".

Vitamin E nằm trong nhóm thuốc điều trị để nhằm ngăn chặn sự ôxy hóa các gốc tự do trong cơ thể (bên cạnh vitamin C, selen...). Hiện tượng ôxy hóa các gốc tự do trong cơ thể có thể đưa đến nhiều bệnh về tim, tiêu hóa, não... và làm cho người già đi nhanh, nhất là ở da.

Các gốc tự do tấn công vào những yếu tố cấu thành màng tế bào, đặc biệt là các chất mỡ tạo thành màng tế bào, các axit nhân tế bào. Hệ thống bảo vệ cơ thể sẽ chống lại hiện tượng này. Tuy nhiên, sự chống lại của cơ thể ngày càng yếu đi. Việc uống rượu, hút thuốc và tia tử ngoại làm cơ thể phóng thích nhiều gốc tự do hơn. Vì vậy, cần dùng thêm các chất chống ôxy hóa từ bên ngoài.

Vitamin E được chiết xuất từ dầu của lúa mì lần đầu tiên năm 1936. Nó cũng có trong một số chất như gan bê, chuối, táo, đào, lúa mì, hạt ngô, tiêu, trứng.... Tuy nhiên, các thức ăn nhiều vitamin E nhất là hạt lúa mì và dầu thực vật. Liều dùng mỗi ngày là 5-12 mg cho người lớn (nam nữ bằng nhau).

Ngoài việc ngăn chặn tác dụng có hại của các gốc tự do, vitamin E còn có tác dụng giống như aspirine, ngăn chặn sự kết dính tiểu cầu, giúp giảm nguy cơ tắc mạch ở người bị bệnh tim mạch. Nhiều người nghĩ vitamin E có thể thúc đẩy sự phát triển tinh trùng ở nam giới, nhất là ở người lớn tuổi. Nhưng cho đến nay chưa có nghiên cứu nào xác nhận điều này.

Tóm lại, cơ chế ngăn ngừa sự lão hóa của vitamin E là làm chậm sự ôxy hóa các chất quan trọng của cơ thể và giảm bớt sự kết dính của các tiểu cầu trong mạch máu. Trường hợp cụ thể của bạn có thể dùng sinh tố E. Nếu ngại uống thuốc, bạn có thể dùng các thực phẩm kể trên.

Ảnh hưởng của ánh nắng mặt trời đối với da

"Xin bác sĩ cho biết ánh nắng mặt trời có hại hay có lợi cho da?".

Những người thiếu vitamin D (không nhiều) cần phơi nắng. Nhưng với đa số, ánh nắng mặt trời rất có hại vì làm da nhanh bị lão hóa, có thể đưa đến bệnh ung thư da về sau. Cần thận trọng khi nghỉ ngơi hay làm việc ngoài nắng để tránh các tác dụng có hại.

Ánh nắng trực tiếp chiếu vào da sẽ gây tác hại tối đa vào mùa hè, vào giữa trưa. Ở vùng càng cao (so với mực nước biển), ảnh hưởng này càng lớn. Ánh sáng mặt trời có thể làm da sậm màu ngay cả khi trời có nhiều mây. Không chỉ ánh nắng chiếu trực tiếp mà ngay cả ánh phản chiếu của tia tử ngoại ở mặt đất, trên cát, trên nước, trên cỏ hay ngay cả trên tuyết cũng gây hại cho da.

Tác dụng của các tia tử ngoại (UV) lên da là không giống nhau:

- UVA làm cho da sạm lại. Nó xuyên qua biểu bì và 20% đến được vùng bì.

- UVB gây ra bệnh cảm do nắng. Nó bị chặn lại ở tầng sừng, 20% đến niêm mạc và 10% đến các gai bì. Chính 10% này tham dự vào việc tạo các nếp nhăn.

* Các tác hại của tia tử ngoại với cấu trúc da:

- Ở vị trí phân tử: Do tác dụng quang hóa, một số phân tử các chất bị phân hủy, phóng thích gốc tự do.

- Ở vị trí tế bào: Cấu trúc xoắn của ADN bị thay đổi, ảnh hưởng đến sự tổng hợp của tế bào.

- Ở bề mặt da và các nếp nhăn: Sau khi bị nắng làm đỏ lên, các nếp nhăn trở nên nhiều hơn, rộng hơn và sâu hơn.

Tóm lại, đối với người Việt Nam, ánh nắng mặt trời có hại cho da, cho sức khỏe nhiều hơn có lợi. Do đó, nên hạn chế việc phơi mình dưới nắng và cần có biện pháp bảo vệ khi làm việc liên tục ngoài nắng. 

15- Ảnh hưởng của thuốc là đối với da

"Tôi làm tài xế đường dài. Để đỡ buồn ngủ khi lái xe ban đêm, tôi thường hút thuốc lá, lâu thành nghiện. Tôi mới 29 tuổi mà trông đã già, da càng ngày càng xấu. Hút thuốc lá có ảnh hưởng gì đến da không?".

Dùng thuốc lá dù dưới hình thức nào (hút hay là nhai) đều có hại cho sức khỏe, tăng nguy cơ ung thư họng, phổi, viêm phế quản mạn, bệnh tim mạch, bệnh lý mạch máu chi dưới. Tác dụng có hại là do các chất có trong thuốc lá gây ra, bao gồm:

- Nicotine: Nhờ đặc tính tan trong mỡ, nicotine xuyên qua được hàng rào niêm mạc và da. Nó được phân tán khắp cơ thể và tập trung tại các nơi chính: hệ thần kinh trung ương, gan, tuyến thượng thận. Chất này có nhiều ảnh hưởng đến cơ thể:

   + Tăng tác dụng của tuyến thượng thận trong thời gian đầu.

   + Giảm sự sản xuất chất histamine (chất gây dị ứng).

   + Thay đổi sự tổng hợp protein và dự trữ serotogene).

Việc hút thuốc lá lâu ngày sẽ gây ngộ độc chất nicotine, dẫn đến các tổn thương mạch máu quan trọng như co mạch kéo dài, gia tăng sự kết dính các tiểu cầu. Kết quả là rối loạn tuần hoàn. Rối loạn này kết hợp với các rối loạn về biến dưỡng, về các kích thích tố sinh dục, dẫn đến tăng sự lão hóa da.

- Khí CO2: Làm rối loạn sự chuyên chở ôxy từ hồng cầu đến các mô và tế bào.

- Các chất kích thích có aldehydes và phenol: Làm xáo trộn hoạt động luân chuyển của bộ máy hô hấp.

- Các chất than gây ung thư.

 

* Tác hại của thuốc lá đối với da

1. Biểu hiện ở da:

- Da bị lão hóa sớm.

- Niêm mạc bị tổn thương (viêm họng do thuốc lá).

- Đầu ngón tay bị vàng.

- Dị ứng da khi tiếp xúc với thuốc lá.

Gương mặt điển hình của một người da trắng nghiện thuốc lá là có nhiều nếp nhăn lớn nhỏ, da bị teo lại, nhợt nhạt, màu vàng, xám... Phần lớn các triệu chứng này biểu hiện rõ hơn ở phái nữ và người phơi nắng nhiều.

Thuốc lá và tia tử ngoại có tác dụng phối hợp trong việc gây lão hóa da. Tuy nhiên, tác hại do tia tử ngoại gây ra mạnh hơn.

2. Sự hiểu biết hiện tại của chúng ta chưa giải thích được hết tác dụng của thuốc lá lên da và cơ chế gây lão hóa. Người ta chỉ thấy được thuốc lá gây ra các tổn thương mạch máu, làm chậm trễ sự vi tuần hoàn tới da và gây suy tuần hoàn da.

Thuốc lá có tác dụng kháng kích thích tố nữ. Nếu hút nhiều thuốc lá, phụ nữ bị mãn kinh sớm hơn bình thường.

Ngoài ra, thuốc lá có các tác hại sau:

- Suy giảm hệ thống miễn dịch ở da (qua sự trung gian của tế bào langerhans).

- Tạo thành các gốc tự do gây hại cho da.

- Phá hủy vitamin C.

Tóm lại, thuốc lá thật sự có tác dụng làm da bị lão hóa nhanh. Càng ngày, người ta càng chứng minh được điều này một cách đầy đủ hơn. Như vậy, việc không hút thuốc lá không những giúp ta tránh được một số bệnh nguy hiểm (như ung thư thanh quản, ung thư phổi..) mà còn giữ cho da được trẻ trung lâu hơn.

16- Biến đổi da khi lớn   

"Khi lớn tuổi, da vẫn giữ nguyên hay có thay đổi?"

Sự lão hóa da chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như di truyền, nội tiết, môi trường chung quanh, dinh dưỡng và cơ học. Trên phương diện vi thể, sự lão hóa da có các đặc điểm sau:

- Lớp biểu bì từ từ mỏng lại, da có tính chất axit hơn.

- Phần nối tiếp giữa biểu bì và bì cũng mỏng lại.

- Phần bì các sợi liên kết rối loạn, sợi đàn hồi giảm, lượng dịch thấm vào giảm, lượng máu nuôi da giảm và các thành mạch dễ vỡ.

Lão hóa được chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 0: Da bình thường.

- Giai đoạn 1: Vào khoảng 40 tuổi.

   + Các sợi đàn hồi rời nhau ra, bị cắt đoạn và bắt đầu biến mất. Các sợi phía ngoài cùng làm thành một lớp mỏng, không có tổ chức sợi dưới lớp biểu bì.

   + Tổ chức sợi liên kết (collagene) không thay đổi.

- Giai đoạn 2 và 3: Trên 45 tuổi

   + Các sợi đàn hồi gần như biến mất hoàn toàn.

   + Sợi liên kết xếp không theo tổ chức nào đặc biệt, rối bù, bung thùa ra.

   + Các tế bào sợi ngừng bài tiết.

Giải thích một cách khoa học thì như vậy. Nhưng có thể hiểu đơn giản hơn là càng lớn tuổi, da càng kém đàn hồi, kém đẹp và khi bị vết thương thì chậm lành hơn người trẻ.

17- Da mặt bị mất màu

"Tôi 47 tuổi, gần đây da mặt có vài chỗ mất màu, trở thành trắng, không biết do nguyên nhân gì. Tôi có dùng rất nhiều thuốc nhưng không có kết quả. Vậy tôi cần điều trị như thế nào?".

Da bị mất màu có thể do bẩm sinh (mới sinh ra đã có) hay do bệnh mắc phải sau khi sinh. Nguyên nhân gây mất màu da sau khi sinh là bệnh ngoài da như nhiễm vi nấm, sẹo mổ, một số ít trường hợp do bôi thuốc lột da mặt hay cà da mặt.

Mất màu ở da được điều trị tùy theo nguyên nhân. Trong trường hợp mất màu do nhiễm nấm (thường gọi là lang ben), việc điều trị được thực hiện tương đối dễ (bằng cách dùng thuốc trị nấm ngoài da). Các trường hợp da mất màu khác thường khó điều trị hơn. Đôi khi phải dùng phương pháp xăm thẩm mỹ mới tạo lại được màu sắc giống da bình thường.

 18- Điều trị da mặt

"Tôi 27 tuổi, là nam tiếp viên cho nhà hàng nên cũng cần có bề ngoài một chút. Da mặt tôi lúc trước bị mụn, nay cũng chưa hoàn toàn hết hẳn. Rải rác trên da mặt có vài nơi nổi mụn kèm với rất nhiều sẹo xấu. Có cách gì để hết hẳn mụn và làm da láng đẹp không?".

Da mặt bạn có lẽ thuộc loại da dày và nhiều chất nhờn, dễ bị mụn kéo dài. Bạn nên điều trị cho mụn hết hẳn trước khi tiến hành các kỹ thuật khác. Việc điều trị cho hết mụn cũng khá phức tạp và mất nhiều thời gian. Bạn phải sinh hoạt, ăn uống điều độ, kiêng cữ một số thức ăn và dùng thuốc điều trị mụn theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa da liễu. Sau khi hết mụn, tùy theo sẹo mụn sâu hay cạn, bạn có thể dùng thuốc lột da mặt hay cà da mặt. Những người bị sẹo mụn sâu quá đôi khi phải khoét bỏ sẹo và ghép da.

Da mặt đen và tóc quăn

"Em 16 tuổi, da mặt rất đen và tóc lại quăn. Xin bác sĩ cho biết làm thế nào cho da mặt trắng và tóc hết quăn?".

Da mặt hay nói chung, da của toàn cơ thể và ngay cả tóc chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền.

Giải phẫu thẩm mỹ hay các mỹ phẩm không thể làm thay đổi cấu trúc, màu sắc da nhưng có thể giúp cho da, tóc khỏe mạnh và tránh các tác nhân làm chúng xấu đi. Cháu cứ tránh nắng và giữ da đầu luôn được sạch thì da và tóc sẽ phát triển tốt. Nếu muốn da mặt trắng hơn một chút, cháu phải dùng mỹ phẩm thoa nhẹ lên da. Cháu đừng mặc cảm vì da không được trắng. Da màu cũng có nét đẹp riêng của nó và trong số hoa hậu thế giới ngày càng nhiều người da màu.

19- Điều trị da bị lão hóa

"Tôi 65 tuổi, trước đây da mặt rất mỏng và mịn nhưng một vài năm gần đây, da bị dày lên, có nhiều nếp nhăn và nổi những mụn đen nhỏ. Xin bác sĩ chỉ dẫn cách khắc phục".

Đây là trường hợp da bị lão hóa, vừa dày lên, có nổi nhiều bệnh tích màu sậm, vừa có nhiều nếp nhăn. Cách điều trị trước mắt là dùng thuốc lột da, cho da mỏng và săn lại. Về sau, nếu da tiếp tục nhăn nhiều, phải làm phẫu thuật căng da.

20- Xóa nếp nhăn trên trán

"Tôi 50 tuổi, không biết có phải vì làm việc và suy nghĩ nhiều không mà trán có rất nhiều nếp nhăn. Có cách nào xóa được nếp nhăn ở trán không?".

Ở người lớn tuổi, da trán bị nhăn nhiều, một phần do cơ da bị co thắt lại, phần khác do da trán giảm đàn hồi. Muốn hết nhăn, phải phẫu thuật cắt ngang các cơ trán bị co thắt và cắt bớt da trán bị nhão, mất đàn hồi. Để tránh sẹo, người ta thường mổ sau chân tóc khoảng 1cm. Một số người trán quá cao và ít tóc có thể mổ ngay nơi giáp giữa da trán và tóc. Khi căng da, ngoài việc lấy bớt da làm cho trán thẳng lại còn có thể kéo phần da đầu xuống thấp một ít cho trán bớt cao.

21- Tiêm thuốc chống nếp nhăn ở mặt

"Tôi 53 tuổi, mặt và đuôi mắt có khá nhiều nếp nhăn, nhất là vùng trán. Tôi có nghe phương pháp căng da mặt, mổ làm phẳng da, nhưng tôi rất sợ mổ. Nghe nói ở nước ngoài có loại thuốc nào đó tiêm vào có thể làm hết nếp nhăn và da phẳng lại. Điều đó có đúng không?".

Thuốc chống nếp nhăn ở mặt dựa trên cơ chế chống co thắt của cơ da mặt. Ở một số người lớn tuổi, do sự co thắt của một số cơ vòng môi, vòng mắt và cơ da trán, da bị chùng lại, tạo thành các nếp nhăn. Do đó, có thể xóa các nếp nhăn này bằng cách ngăn chặn sự co thắt của các cơ bắp liên hệ. Thuốc được dùng là chất chiết xuất từ  vi trùng Clostridium Botilimun. Người ta đã nghiên cứu một nhóm độc tố đặc biệt của vi trùng này, pha loãng với liều rất nhỏ, dùng tại chỗ thấy có kết quả tốt trong điều trị chứng co thắt ở cơ mặt và mắt. Thuốc có tên là Botox, còn có tên là Dysport, có thể dùng xóa nếp nhăn ở mặt.

 

22- Lột da mặt bằng TCA

"Trước kia da tôi rất trắng. Nhưng vì cuộc sống, tôi phải bươn chải ra đường, nay da mặt rất khô, nám và đen. Tôi có nghe đến chất lột da mặt TCA. Vậy TCA là gì? Tôi có lột được bằng chất TCA không? Chất này mua ở đâu và có đắt lắm không?".

TCA là thuốc lột da mặt loại mới, có rất nhiều ưu điểm như không độc, có thể lột da dày hay mỏng tùy theo nồng độ và lượng thuốc thoa nhiều hay ít. Thuốc này có thể dùng cho mọi trường hợp da mặt bị xấu đi do ánh nắng mặt trời hay do cao tuổi.

Hiện nay, một số thẩm mỹ viện ở TP HCM có thuốc này, giá không đắt lắm. Bạn có thể liên hệ và hỏi trực tiếp ở các cơ sở giải phẫu thẩm mỹ.

 

23- Săn sóc sau khi lột da mặt

"Tôi đã lột da mặt hai tuần ở một cơ sở giải phẫu thẩm mỹ. Kết quả cũng khá. Muốn giữ kết quả này được lâu cần phải làm gì?".

Muốn cho da mặt đẹp lâu, sau khi lột da cần chú ý:

- Tránh nắng: Đây là yếu tố quan trọng nhất. Việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời có thể gây nám da mặt và gây ung thư da về sau.

- Dùng kem dưỡng da thường xuyên.

Tuổi nào căng da mặt được?

"Tôi 59 tuổi, da mặt bị nhăn nhiều. Tôi muốn được trẻ trung hơn một chút, có thể căng da mặt được không?".

Về chuyện căng da mặt, trước đây người ta quan niệm chỉ nên căng cho người lớn tuổi, tức là trên năm mươi tuổi. Nhưng càng ngày, số người trẻ muốn căng da mặt càng nhiều. Không phải chỉ có ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng thế. Người ta mong trẻ đẹp ở tuổi đang làm việc hăng say, trẻ đẹp để thành công hơn trong tình yêu và sự nghiệp. Hiện nay chỉ định căng da mặt ít phụ thuộc vào tuổi tác. Người nào da bị nhăn nhiều, sức khỏe còn tốt là có thể căng được. Trường hợp cụ thể của bà chắc là phẫu thuật được.

 

24- Căng da mặt có bị sẹo không? 

"Nghe các bạn nói căng da mặt sẽ trẻ và đẹp trở lại, nhưng tôi rất sợ bị sẹo xấu. Căng da mặt có bị sẹo nhiều lắm không?"

Căng da mặt là một phẫu thuật tách da ra, kéo thẳng lại và cắt bỏ phần da thừa nên có sẹo nhỏ ở nơi mổ. Sẹo này rất nhỏ, khó thấy, một phần được tóc che và càng ngày càng mờ đi, rất khó nhận ra.

 

25- Sau khi căng da mặt phải nghỉ việc bao lâu? 

"Tôi năm nay 50 tuổi, muốn căng da mặt cho bớt nếp nhăn. Điều này có hại gì không? Người lớn tuổi căng da có nguy hiểm gì không? Phải nghỉ làm việc bao lâu? Hiện tôi vẫn đang làm việc, công việc tôi đòi hỏi phải giao tiếp nhiều nên rất mặc cảm về làn da bị lão hóa của mình".

Trường hợp của chị nếu căng da mặt sẽ cho kết quả rất tốt vì da nhăn nhiều và tuổi chưa cao lắm. Căng da là một phẫu thuật ngoài da và tổ chức dưới da, không có gì nguy hiểm lắm nếu so với các phẫu thuật khác. Với các tiến bộ mới ngày nay, phẫu thuật chỉ làm gây tê tại chỗ, thời gian mổ khoảng 3 đến 4 giờ. Mổ xong nghỉ độ 15 phút là có thể về nhà, khoảng 1 tuần sau trở lại cắt chỉ. Sau khi mổ, nơi mổ được băng bằng ít gạc nhỏ, người được phẫu thuật vẫn đi lại, sinh hoạt bình thường. Chỉ cần nghỉ công tác độ một tuần là đủ. Cần kiêng làm việc nặng, giữ nơi mổ khô sạch. Tránh đụng chạm mạnh hoặc làm bẩn nơi mổ. Kiêng ăn một ít thức ăn gây dị ứng như cá biển, rau muống...

Sau khi căng da mặt phải tránh nắng bao lâu?

"Tôi là nhân viên làm việc trong phòng lạnh, không tiếp xúc với bụi bặm hay hóa chất gì. Tôi muốn căng da mặt nhưng nghe nói sau khi mổ phải hạn chế ra nắng. Như vậy nếu đi làm việc bằng xe gắn máy thì có hại gì không?".

Mặt trời là tác nhân làm da bị thoái hóa nhanh. Ngoài tác dụng thúc đẩy sự tổng hợp vitamin D, việc phơi nắng hoàn toàn không có lợi gì. Những người ở vùng xích đạo có nhiều nguy cơ bị tia tử ngoại trong ánh sáng mặt trời gây ra những tổn thương không hồi phục. Tổn thương này làm da bị già đi dù tuổi mới 45 hay 50. Do đó, ngay cả khi không giải phẫu thẩm mỹ, chúng ta cũng không nên phơi nắng nhiều. Khi tiếp xúc với nắng, như đi tắm biển chẳng hạn, đừng nên phơi nắng lâu quá. Nên dùng các loại kem che chở da ở phần da tiếp xúc với nắng.

Sau khi căng da mặt, lúc ra nắng nên đội nón hoặc che ô. Trong trường hợp cụ thể của bà, sau khi căng da mặt ổn định, bà có thể đi làm bình thường, không gặp trở ngại gì.

26- Sau khi căng da mặt bao lâu thì có thể tẩy lông mặt? 

"Mặt tôi có ít lông măng nhỏ, thỉnh thoảng tôi phải đến thẩm mỹ viện để tẩy lông. Xin bác sĩ cho biết sau khi căng da mặt bao lâu tôi có thể tẩy lông mặt như trước?".

Bốn đến sáu tuần sau phẫu thuật, bà có thể dùng chất tẩy lông. Tuy nhiên, nếu có kết hợp với lột hay cà mặt thì chỉ được tẩy lông khi da hoàn toàn bình thường, tức là da mặt hết màu đỏ (thường từ 10 đến 12 tuần sau).

 

27- Sau khi căng da mặt bao lâu có thể gội đầu và sấy tóc được?

"Tôi để tóc dài; điều đó có gây trở ngại gì cho phẫu thuật không? Sau khi mổ bao lâu tôi có thể gội đầu và sấy tóc bình thường?".

Tóc dài hay ngắn gì cũng phẫu thuật được. Trước khi phẫu thuật, bà nên gội đầu thật sạch. Sau phẫu thuật khoảng hai tuần, khi vết mổ lành tốt, bà có thể gội đầu và sấy tóc. Tuy nhiên, trong vòng 4 đến 6 tuần đầu, bà không nên dùng máy sấy tóc quá nóng.

Những điều cần biết về phẫu thuật thẩm mỹ (phần 17)

 

28- Phẫu thuật da mặt ở người cao tuổi

"Tôi năm nay 68 tuổi, sức khỏe hoàn toàn bình thường. Tôi muốn căng da mặt được không? Da người lớn tuổi khác với người trẻ như thế nào?".

Tuổi 68 có hơi cao để làm phẫu thuật. Nhưng nếu cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh thì có thể phẫu thuật căng da mặt hay bất cứ phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ nào. So với da người trẻ tuổi, da người cao tuổi có một số khác biệt sau:

* Các triệu chứng bên trong

- Xuất hiện các nếp nhăn ở cổ và mặt.

- Da bị teo lại, lớp mô liên kết bị mỏng đi.

- Xuất hiện các ban máu (purpura) do thành mạch dễ vỡ.

- Có các tổ chức giống như sẹo giả hình sao ở lưng, bàn tay và cánh tay.

* Các triệu chứng bên ngoài (do ánh nắng mặt trời gây ra):

- Các nếp nhăn.

- Da dày, cứng, thô nhám và khô do sự giảm tuyến bì và tuyến mồ hôi, lớp nước và mỡ bảo vệ phía ngoài da không còn nữa.

- Da lão hóa, có nhiều mô hạt, mụn, giống như trổ đồi mồi. Trán, má và cổ có nhiều nếp nhăn sâu, có trường hợp bị ung thư da.

- Chức năng sinh lý của da giảm:

   + Giảm khả năng lành sẹo, trao đổi khí và bốc hơi nước qua da.

   + Giảm sức chịu đựng đối với các sang chấn.

   + Giảm phản ứng miễn dịch, khả năng điều hòa nhiệt độ và sản xuất vitamin D.

   + Giảm sức bảo vệ đối với ánh nắng mặt trời.

Tóm lại, da người lớn tuổi khi phẫu thuật sẽ chậm lành hơn. Nhưng đặc tính này thay đổi tùy thuộc điều kiện sống, làm việc và môi trường xung quanh của mỗi người.

 

29- Nên chọn căng hay lột da mặt?

"Tôi năm nay 34 tuổi. Trước đây da mặt tôi trắng và mịn, rất đẹp. Trong vài năm gần đây, có lẽ do đi nắng nhiều, da bị dày lên và có nhiều chỗ nám đen. Trường hợp của tôi nên căng da hay lột da mặt? Tôi trông thể tránh nắng được vì yêu cầu công việc?".

Phương pháp căng da mặt được dùng khi da mặt bị nhăn nhiều, nhất là những người lớn tuổi. Trước đây, người ta chỉ căng cho những người trên 40 tuổi; ngày càng có nhiều người trẻ muốn căng da. Hiện nay, vấn đề tuổi không được chú ý nhiều nữa, bất cứ tuổi nào, giới nào, da mặt bị nhăn là có thể căng được, căng nhiều ít tùy mức độ nhăn.

Tuy nhiên, khi da mặt thẳng hoàn toàn thì không cần căng, như trường hợp của bạn. Do công việc, phải đi nắng nhiều, da mặt của bạn bắt đầu có hiện tượng lão hóa. Trường hợp này nên lột da. Sau lột nếu dùng các loại kem dưỡng da, chống nắng thì cũng không có gì đáng ngại lắm khi đi nắng. Ngày nay, có nhiều phụ nữ che hầu như kín cả mặt khi làm việc ngoài nắng; điều này rất tốt. Nhưng khi ở trong bóng mát cũng cần chú ý đến sự phản chiếu của ánh nắng từ mặt đất lên da.

 

30- Có nên vừa lột da mặt vừa căng da mặt?

"Da mặt tôi hơi xấu, đi thẩm mỹ viện thì được khuyên nên lột da cho mỏng lại và căng cho da thẳng ra. Hai phương pháp này cùng áp dụng thì da sẽ mịn, trẻ ra rất nhiều. Nhưng tôi không biết có thể thực hiện cùng lúc lột da mặt và căng da mặt không? Nên lột da trước hay căng da trước?".

Đúng là lột da mặt và căng da mặt đều là hai cách làm cho trẻ lại. Lột da cho da mỏng đi, xóa bớt phần da dày, xấu, làm cho da non và trẻ ra. Căng da mặt làm cho da thẳng lại, xóa hết các chỗ da bị nhăn, xấu. Hai cách này cùng kết hợp thì da sẽ trẻ và đẹp nhiều.

Da được nuôi dưỡng nhờ các mạch máu ở dưới da. Phương pháp căng da mặt tách da ra khỏi nguồn nuôi dưỡng của chúng và đặt lại một chỗ mới. Ở chỗ này, mạch máu sẽ mọc lên và nuôi tiếp, thay thế mạch máu cũ bị mất đi. Thời gian máu nuôi mọc tốt là khoảng 2 đến 3 tháng. Do đó, nên căng da mặt trước vài tháng rồi lột da. Nếu lột da cùng lúc hoặc trước khi căng thì nơi mổ khó lành, có thể cho sẹo xấu. Lột da sớm quá khi da chưa bình thường thì có thể da lột bị thiếu máu nuôi, nhiễm trùng kéo dài và cho kết quả xấu hơn lúc chưa lột.

 

31- Sưng nề sau khi căng da mặt

"Tôi được phẫu thuật căng da mặt cách đây hai tháng. Hiện nay, nơi căng da còn sưng nề nhiều. Như vậy có cần phải phẫu thuật lại không?".

Căng da mặt có nhiều kỹ thuật. Các kỹ thuật này nhằm tách da mặt ra khỏi tổ chức bên dưới rồi căng cho thẳng lại. Sự khác nhau của các phẫu thuật là tách da mặt nông hay sâu. Một số kỹ thuật có làm thêm các thủ thuật khác nữa như kéo căng các tổ chức cơ của da mặt hay hút mỡ ở mặt và cổ.

Phẫu thuật căng da có thể làm sưng nề vùng mặt một thời gian (từ một đến nhiều tháng). Có một số ít trường hợp phải sau ba hay sáu tháng mới hết sưng. Do đó, trường hợp của cô nếu không bị sưng đỏ hay đau nhức (do nhiễm trùng nơi mổ) thì chắc không cần phẫu thuật lại.

32- Căng da bụng

"Trước đây da bụng tôi rất đẹp. Sau khi sinh cháu xong, tôi bị gầy đi nhiều, da bị nhăn, rất xấu. Có thể căng cho da bụng phẳng ra như căng da mặt được không? Căng da như vậy về sau có thai trở lại được không?".

Giống như da mặt, da bụng cũng có thể căng. Phẫu thuật căng da bụng phải bóc tách rộng, tốn nhiều thời gian hơn và sau khi căng phải băng chặt ít hôm. Tùy theo trường hợp, nếu sau khi căng, rốn bị kéo lệch nhiều thì quá phải thay đổi vị trí mới cho rốn, để nó cân đối với vùng da bụng mới.

Sau khi căng da bụng, bạn vẫn có thể mang bầu lại bình thường vì da sẽ giãn ra cho thích hợp với bụng khi mang thai.

 

Chương 3: Điều trị sẹo mụn

33- Nguyên nhân gây mụn

Mụn là bệnh mạn tính của nang lông, nếu không được điều trị tốt có thể dẫn đến nhiều sẹo xấu ở mặt. Bệnh xuất hiện vào tuổi dậy thì và xảy ra ở khoảng 80% người tuổi vị thành niên, chấm dứt vào tuổi từ 18 đến 20. Có một số người bệnh kéo dài đến khi trưởng thành. Đây là một loại bệnh di truyền, xảy ra ở vùng mặt và phần trên ngực, nơi có nhiều tuyến bã.

Có ba hiện tượng bệnh lý xảy ra ở nang lông đưa đến sự hình thành mụn:

1. Sự bài tiết chất bã

Có hiện tượng tăng sự bài tiết chất bã là do:

- Sự gia tăng hoạt tính của men 5 alpha-réductase chuyển testostérone thành dihydrotestostérone.

- Giảm protein mang testostérone lưu thông, đôi khi làm tăng testostérone tại nang lông.

- Sản xuất quả nhiều androgènes ở phụ nữ, gây ra nam hóa, rụng tóc và mụn.

2. Tăng sự sừng hóa ở nơi bài tiếp bì (lỗ chân lông)

Các chất bã chứa một lượng axit béo cao, kích thích lỗ chân lông và làm tăng sự sừng hóa. Sự ký sinh của vi sinh vật mụn tên là Propionibactérium Acnes (PA) cũng sinh ra chất men thủy phân triglycerides thành axit béo. PA tăng sinh nhiều, tạo ra các chất sừng và chất bã, hình thành còi mụn.

Người ta phân biệt 2 loại còi mụn: loại lộ ra ngoài thành chấm đen và loại kín dạng u nang nhỏ. Sự hình thành còi mụn còn do ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như:

- Dùng các loại mỹ phẩm có nhiều chất mỡ (chất nhờn)

- Dùng chất lưu huỳnh.

- Ánh mặt trời.

- Sức nóng.

- Độ ẩm.

3. Viêm nang nông

Do sự vỡ màng bao mỏng của còi mụn,  vi trùng PA tiết ra các men hualuronidases, protéases, amylases làm tan màng bao còi mụn. Chất lysosyme được phóng thích làm vỡ túi nang lông và hình thành tổ chức mô hạt viêm. Về lâm sàng, đây là các mụn mủ, đôi khi là những nang cứng sâu dưới da.

34- Các loại mụn 

 

Các dạng mụn nặng

Có thể xuất hiện rất nhanh sau tuổi dậy thì, sau một đợt có dạng còi mụn hay mụn mủ.

- Mụn bọc to: Đây là dạng mụn nổi gò lên, trong chứa nang mủ, thường xảy ra ở phái nam. Các khối u hạt viêm có thể chuyển thành áp xe, rò mủ, về sau thành sẹo cứng, lõm da xuống rất xấu. Đây là dạng mụn của các em trai, thường ở lưng hay mặt trước ngực. Ở phái nữ, loại mụn này thường kết hợp với bệnh nam hóa.

- Mụn dạng conglobata: Theo sau mụn bọc to, các loại mụn to lên, đau nhiều, mụn tụ lại thành đám và rò mủ ra da. Bệnh kéo dài đến tuổi trưởng thành và gây nhiều sẹo xấu.

- Mụn thể nặng: Là loại mụn conglobata có đi kèm theo sốt, đau nhức các khớp xương và ảnh hưởng đến toàn trạng người bệnh. Nơi mụn bị loét, đóng vảy, chảy máu.

35a- Mụn ở trẻ em

- Trẻ nhỏ: Xảy ra khoảng 3 đến 6 tháng sau khi sinh, mặt có còi mụn và mụn. Bệnh này chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn do ảnh hưởng kích thích tố nam của người mẹ.

- Mụn ở trẻ lớn: Thường ít gặp, là mụn đa dạng của trẻ vị thành niên, xảy ra ở những đứa trẻ cha mẹ bị mụn nhiều.

35b- Mụn ở người lớn

Bệnh tích viêm là chủ yếu

- Ở đàn ông: Bệnh tích chủ yếu ở cổ và lưng dạng conglobata hay dạng mụn nặng.

- Ở phái nữ: Chủ yếu là mụn do kích thích tố, thường xảy ra quanh miệng và vùng hàm dưới.

Các thuốc tránh thai có androgène và progestérone có thể gây ra và làm mụn nặng thêm.

Nếu người bệnh có triệu chứng nam hóa, phải tìm xem có u thượng thận hay u buồng trứng không. Đặc biệt, triệu chứng này ở phụ nữ có thể do yếu tố tâm lý.

36a- Bệnh mụn thứ phát

Xảy ra do dùng mỹ phẩm, tiếp xúc với các tác nhân vật lý, hóa học hay do dùng thuốc.

- Mụn do dùng mỹ phẩm: Dạng còi mụn hoặc những nang nhỏ ở quanh miệng. Bệnh xảy ra do dùng mỹ phẩm có nhiều chất nhờn, không thích hợp với da.

- Mụn do tiếp xúc với các hóa chất.

- Mụn do nghề nghiệp: Do tiếp xúc với chất hydrocarbures (có trong dầu hỏa), tạo thành còi mụn hay nốt mụn ở da nơi tiếp xúc.

- Các tác nhân vật lý như tia X, tia Cobalt có thể gây mụn nhiều tuần sau khi xạ trị. Tia tử ngoại trong ánh mặt trời có tính chất diệt trùng nhưng cũng gây mụn.

- Mụn do dùng thuốc trị bệnh: Thường ở dạng viêm nhiều hơn là tạo thành còi mụn.

Các loại thuốc gây nổi mụn thường gặp là loại Corticoides dùng bôi mặt hay uống; các loại thuốc có chất Halogène như Brome (Calcibronat), iốt (thuốc trị bướu tuyến giáp trạng ở cổ), Cobalt (có trong sinh tố B12), Flour (có trong kem đánh răng).

Các thuốc trị động kinh như Gardénal, Diphénylhydantoine, Trimetadoine nếu được dùng một thời gian dài cũng có thể gây nổi mụn ở người lớn.

Một số loại thuốc khác cũng có thể gây mụn như: Muối của Lithium, Rifampicine, các loại thuốc chứa chất Progestérone tổng hợp.

36b- Cách điều trị mụn

Việc điều trị mụn nhằm ba mục đích: giảm bớt chất nhờn, làm tan còi mụn và làm giảm phản ứng viêm.

1. Làm giảm chất nhờn

- Dùng thuốc ức chế men 5 alpha-réductase, gồm Progestérone tự nhiên (Progestosol), Promestriène (Delipoderme), kết hợp kẽm với vitamin B6 (Alphane). Các chất này trên lý thuyết rất tốt, nhưng thực tế không cho kết quả nhiều lắm. Đối với phụ nữ, dùng chất kháng Androgène. Ở cả hai phái, có thể dùng Isorétinoine.

- Các kích tố nữ tác dụng trên ba cách:

  + Tăng SHBG (globulin mang kích thích tố sinh dục), làm giảm testotérone tự do hoạt động.

  + Ức chế các điểm tiếp nhận kích thích tố nam ở tuyến bã.

  + Giảm sự sản xuất Androgène ở buồng trứng.

Các thuốc này kết hợp với acétate cyprotérone hay một loại thuốc progesté rone không có tác dụng của kích tố nam.

Thuốc được dùng cho phụ nữ lớn tuổi. Đối với phụ nữ trẻ, có thể dùng oestrogen với liều 30 đến 50 mcg (Ovanon 50, Varnoline 30). Ngày nay, Diane là loại thuốc được nhiều người dùng hơn. Thường đến tháng thứ tư mới có kết quả. Cần dùng thuốc một thời gian dài, nhiều khi hơn một năm.

- Thuốc Isotretinoine hay Roaccutane: Dùng để điều trị mụn nặng. Cơ chế tác dụng là làm giảm nhanh chóng sự bài tiết của tuyến bã không do cơ chế nội tiết. Tác dụng ức chế tuyến bã này tồn tại ngay cả khi ngưng dùng thuốc. Tiếp theo, thuốc còn làm còi mụn được đẩy ra ngoài, giảm số lượng vi trùng Pa, giảm phản ứng kích thích tế bào viêm của cơ thể. Liều dùng là 0,5 mg/kg/ngày trong 300 ngày.

Thuốc này làm khô da và có thể gây một số tác dụng phụ như nhức đầu, đau nhức khớp xương, không dùng được cho phụ nữ mang thai.... Nó chỉ được dùng khi bị mụn nhiều, điều trị thuốc khác không kết quả.

2. Làm tan còi mụn

Các thuốc này làm sạch da, đẩy còi mụn ra (hai hoặc ba tháng sau khi bắt đầu điều trị nội khoa).

- Các loại thuốc thoa ngoài da như Isotrétinoine loại dung dịch (gel) kết hợp với kháng sinh tại chỗ cho kết quả tương đối tốt và ít bị phản ứng phụ.

- Điều trị tổng quát với các thuốc kháng viêm, kháng sinh tại chỗ và toàn thân

3. Điều trị sẹo mụn

Sau khi hết hẳn mụn từ 6 tháng đến 1 năm, có thể điều trị mụn bằng phương pháp lột, cà da mặt hoặc phẫu thuật cắt bỏ sẹo và ghép da.

Trên thực tế, việc điều trị mụn thường ít kết quả vì các nguyên nhân gây mụn ít được chú ý và giải quyết triệt để. Các sẹo này tuy vậy vẫn điều trị được bằng phẫu thuật thẩm mỹ.

37- Đề phòng và điều trị các loại mụn mặt mà không để lại sẹo thâm